Hiển thị các bài đăng có nhãn Nepal. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nepal. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

CẶP ĐÔI HOÀN HẢO CỦA THẦN THOẠI ẤN ĐỘ



THẤY VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY : BÀI 2

LỜI DẪN: Jade là một chuyên gia về Trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) từ Singapore đến Nepal để nghiên cứu các văn bản cổ đại ở đây. Cô được Lasta, sĩ quan tình báo Nepal dưới vỏ bọc một Chuyên viên Quan hệ công chúng của một tập đoàn lớn, hướng dẫn thăm viếng các di tích cổ của Nepal... 

CHƯƠNG 16

      Lasta chỉ một cái đền nhỏ, “Đấy là Đền Shiva-Parvati.” Cô dắt tay Jade đi đến ngôi đền ấy.
  Trên các vì kèo và tường của ngôi đền này trang trí các bức chạm gỗ gợi tình (Erotic scenes), mô tả các lạc thú của tình yêu. Jade thẹn đỏ mặt khi nhìn thấy các hình ảnh ấy. Cô nghĩ thầm – “Sao họ có thể làm như thế? Trang trí một nơi thờ phượng tôn nghiêm với các cảnh từ Kama Sutra… Không thể tưởng tượng được!”
Đền Shiva-Parvati trong khuôn viên quần thể khu đền Pashupati thiêng liêng nhất của Hindu Nepal

 
Các hình chạm khắc gợi tình (erotic) của đền Shiva-Parvati

Xin bấm vào hình để phóng to lên




   Như hiểu ý Jade, Lasta liền giải thích, “Đừng hiểu nhầm, cô bạn của tôi ơi. Những bức điêu khắc gỗ này không làm ô uế ngôi đền này đâu. Chúng là những kiệt tác tôn vinh những tình nhân vĩ đại của loài người, những vị thần Sáng Tạo và Hủy Diệt của vũ trụ, Shiva và Parvati. Chúng không phải là những hình ảnh “con heo” 3D đâu, mà chính là những biểu tượng của sự hợp nhất các yếu tố Âm và Dương trong vũ trụ theo Mật tông Hindu. Chúng chỉ xuất hiện ở những ngôi đền của, hoặc liên quan đến Shiva và Parvati-Những vị thần của sự sáng tạo và hủy diệt, yêu thương và hy sinh. Những bức chạm khắc này mô tả triết lý của Vòng Sinh-Tử vô cùng tận.”


   Jade vô cùng ngạc nhiên trước những kiến thức thâm sâu của cô gái còn rất trẻ này.
   Cô gái Nepal liền kể cho Jade nghe chuyện tình của Shiva và Parvati, một trong những chuyện tình cảm động nhất của loài người.
  “Xưa kia, thần Daksha có một cô con gái xinh đẹp tên là Sati. Daksha mong có một chàng rể quý đẹp trai, danh giá hơn là anh chàng lông bông Shiva hay lê la cùng với bọn nghèo khổ. Tuy nhiên, trái với ước nguyện của cha mình, Sati đã trao cho Shiva trái tim mình ngay từ lần gặp đầu tiên bất kể vẻ ngoài kinh khiếp của chàng. Anh ta có làn da sạm nắng, tóc dài chấm vai, quấn một tấm khố bằng da hổ, tay cầm một cái chĩa ba và một cái trống damru. Một con rắn hổ mang quần trên cổ anh ta như một vòng đeo sống động. Khi Sati đến tuổi cập kê, theo phong tục, Daksha tổ chức một buổi lễ gọi là Swayamvara cho con gái yêu (Swayamvara= buổi lễ chọn chồng cho các cô gái). Daksha mời tất cả các vị thần trai trẻ xinh đẹp đến dự để Sati chọn, nhưng cố tình không mời Shiva. Sati lướt mắt tìm khắp nơi mà không thấy Shiva, cô liền khấn nguyện và tung vòng hoa lên trời. Vòng hoa bay lượn trên không trung và đáp xuống choàng vào cổ anh chàng Shiva đang ngủ vùi bên một đống tro sau một đêm say sưa hát hò cùng bè bạn. Daksha cay cú lắm nhưng đành phải gả Sati cho Shiva. Chàng đưa nàng về ngọn núi thiêng Kailash, lãnh địa của chàng. 
 
Shiva và Sati
Vẫn còn oán ghét chàng rể điên điển nên vào một dịp lễ hội khác Daksha cố tình không mời Shiva đến dự. Sati phải về dự lễ một mình. Trong lúc hội hè tưng bừng Daksha lại buông lời sỉ nhục Shiva trước mặt tất cả các vị thần. Để bảo vệ danh dự của chồng, Sati nhảy vào đống lửa thiêng tự sát. (Đấy là nguồn cội của phong tục “Sati” của đạo Hindu. Theo phong tục này người vợ tự thiêu sau cái chết của chồng để bày tỏ sự chung thủy-Chúng ta không phán xét ở đây chỉ ghi nhận lại lịch sử và phong tục- NP). 
Sati tự thiêu
 


Shiva bồng xác Sati chạy cuồng loạn khắp nơi
 Đau buồn vô hạn trước cái chết của người vợ yêu, Shiva mất trí. Ông bồng xác vợ tuôn chạy cuồng dại khắp nơi làm cho mặt đất chấn động, đe dọa tới sinh mạng của muôn loài. Để cứu thế giới, thần Vishnu liền hóa phép cắt thi hài của Sati thành nhiều mảnh rơi xuống nhiều nơi trên đất Ấn, Tuyệt vọng, Shiva lầm lũi quay về ẩn cư trên núi Kailash. Sati sau đó tái sinh làm con gái của thần núi Himavan (Himalaya) với tên Uma họ là Himavati, nhưng thường được biết đến với mỹ danh Parvati (nghĩa là vô tội, thánh thiện). Kiếp này Parvati cũng lại yêu Shiva vì số phận của họ đã đan bện vào nhau. Tuy thế, Shiva đã chọn một đời sống ẩn dật, tịnh khẩu, không tiếp xúc với người ngoài. Chàng suốt ngày ở trong hang đá đắm chìm với tình yêu vô vọng dành cho Sati. Trong khi đó, cô gái xinh đẹp con gái của thần núi Himalaya lại từ chối tất cả các lời cầu hôn của các chàng trai, giữ vẹn lòng chung thủy với người duy nhất mà cô yêu từ kiếp trước. Cô chờ đợi Shiva hết năm này sang năm khác và cầu nguyện sẽ được cùng chung sống với người yêu một lần nữa. Parvati sau đó bỏ vào rừng sống đời một đạo sĩ Yogi trong khu rừng bên cạnh hang đá của Shiva. Hàng ngày nàng vào hang quét dọn sạch sẽ, trang hoàng hoa rừng khắp hang đá nhưng thủy chung Shiva vẫn không để mắt tới bất cứ ai. Thần tình yêu Kamadeva (người tương truyền đã ban Kama Sutra cho dân Ấn) muốn giúp Parvati nên lẻn vào hang dùng cánh cung bằng cây mía bắn một mũi tên tẩm mật vào người Shiva. Shiva mở bừng con mắt thần giữa trán thiêu Kamadeva ra tro. Họ sẽ mãi ở cạnh nhau mà không bao giờ gặp nếu các vị thần không kéo đi khuấy Biển Sữa (Tích khuấy Biển Sữa xin xem ở đây) làm chất độc Halahala trồi lên đe dọa đến toàn bộ vũ trụ. Chỉ có một mình Shiva mới có thể cứu chuộc thế giới (Tích Shiva cứu thế giới xin xem CHÚ THÍCH ở cuối bài này). Khi ấy Vishnu đã mang Parvati đặt trước mặt Shiva để đánh thức ông khỏi cơn trầm uất. Mặt đối mặt, họ nhận ra rằng mỗi người là một nửa của nhau và từ khoảnh khắc ấy, không gì có thể chia cắt họ được nữa. Với sức mạnh của tình yêu (chỉ sự hợp nhất toàn bộ các yếu tố và năng lượng của vũ trụ- NP), Shiva đã đánh bại thế lực hắc ám và cứu được thế giới. Khi cả hai tái hợp cùng nhau, sức mạnh tình yêu của họ đã phục sinh Kamadeva từ đống tro tàn…”
 
Shiva và Parvati
    “Ô, đây là một chuyện tình kỳ diệu nhất mà mình từng được nghe,” Jade thở dài. “Ước gì mình cũng có được một tình yêu như thế…”
     
 Lasta tiếp tục kể:” Cặp đôi thần thánh này đã cứu thế giới không chỉ lần ấy mà còn nhiều lần sau này nữa. Lần nọ có một con quỷ hung bạo tên là Rakta Veeja (nghĩa là Hạt-Giống-Máu) đe dọa thế giới. Mỗi một giọt máu của nó rơi xuống chạm mặt đất sẽ biến thành hàng ngàn con quỷ con hung bạo giống hệt như nó. Không ai và không một vị thần nào có thể tiêu diệt được lũ quỷ sinh sản không ngừng ấy. Durga (Durga là một hóa thân khác của Parvati trong hình tướng nữ chiến binh cuồng nộ) nổi cơn thịnh nộ. Và từ con mắt thứ ba giữa trán của nữ thần xẹt ra một nữ thần da đen thui, tóc dài bay tung tõa và có bốn tay. Nữ thần này cầm  một thanh kiếm sắc, tay khác cầm một nắm đầu quỷ mới bị chặt, cổ đeo xâu chuỗi cũng bằng các đầu lâu quỷ và mặc một cái váy làm bằng các cánh tay bị chặt của quỷ. Mắt bà long sòng sọc, đỏ rực như than hồng. Đó chính là Kali (Sanskrit là Kaalaratri – Nữ thần đen như bóng đêm. Thường gọi là Kali nghĩa là ĐEN). Trông thấy bọn quỷ con, Kali gầm lên xông vào bọn chúng và chém như cắt rạ. Cái lưỡi của Kali thè dài ra hứng lấy tất cả những giọt máu mà Rakta Veeja tung xuống đất, chính vì vậy mà dừng lại được sự sinh sản ra bọn quỷ con. Cuối cùng chỉ còn lại mỗi mình Rakta Veeja, Kali chặt đầu con quỷ này và ăn sống nuốt tươi nó tránh để máu của nó có cơ hồi sinh trở lại. Sự khủng khiếp của cuộc chiến, cùng với lượng máu đầy chất độc của Sakta Veeja làm Kali mất tự chủ, hóa điên và nhảy múa cuồng loạn. Mặt đất rung chuyển dưới từng bước chân của vị nữ thần hung tợn và toàn bộ vũ trụ có nguy cơ bị tàn phá. Lần này đến lượt Shiva. Ông liền nằm xuống dưới chân Kali chịu đựng các cú giẫm đạp của bà cho đến khi bà kềm chế được cơn thịnh nộ. Chính vì thế, bạn sẽ thấy các nghệ sĩ mô tả Kali trong hình thức một nữ thần đen nhẻm cầm một hoặc một nắm đầu lâu, lưỡi thè lè ra khỏi miệng và dẫm lên thân thể một người đàn ông.”


Nữ thần Kali

 ********************************************
CHÚ THÍCH: lễ hội Maha Shivaratri (Đêm vĩ đại của Shiva), là lễ hội quan trọng nhất của tín đồ Hindu theo phái Shaivism (phái này thờ thần Shiva như vị thần tối cao, trong khi phái thứ hai là Vaishavism thì tôn thờ Vishnu như chúa tể vũ trụ) diễn ra vào ngày trăng non của tháng Falgun theo lịch Ấn Độ (khoảng cuối tháng Hai đầu tháng Ba Tây lịch). Hàng triệu tín đồ Hindu từ khắp các nước Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia, Mỹ, châu Âu,… hành hương về địa điểm linh thiêng nhất của Hindu giáo ở Nepal: ngôi đền thiêng Pashupati ở Kathmandu.


Thần Shiva nuốt Halahala để cứu muôn loài.
Theo thần thoại Hindu, có một lần thế lực hắc ám đe doạ huỷ diệt vũ trụ dưới hình thức Halahala (chất tối độc trồi lên khi các vị thần khuấy đảo Đại dương Sữa huyền thoại để tìm thuốc trường sinh – hạnh phúc). Với tư cách là Người bảo vệ vũ trụ, thần Shiva đã nuốt chửng chất độc ấy để cứu tất cả muôn loài. Chất độc bỏng cháy cổ họng Shiva và làm thân thể Ngài lạnh giá. Ngài chạy băng trên những ngọn núi tuyết của Himalaya để làm dịu nó đi. Dừng chân tại một cánh rừng, những thợ săn thấy Ngài run rẩy vì lạnh nên đã vội vàng chạy đi gom củi khô, đốt lên một đống lửa to để sưởi ấm cho Ngài.
Ganga (nữ thần sông Hằng) đã mang nguồn nước tinh khiết từ thượng nguồn của các dòng sông để hạ nhiệt cho cổ họng của Shiva. Nhưng vẫn chưa đủ. Cho đến khi mặt trăng chui vào trong mái tóc dài rậm của Shiva giải toả sức nóng đang nung đốt trong đầu và luồng hơi lạnh giá trong cơ thể Ngài. Sau những giây phút “xuống địa ngục rồi lên đỉnh”, Shiva vô cùng phấn khích và bắt đầu hân hoan nhảy múa vũ điệu tandawa nritya.
Chính vì thế, ngày trăng non ấy được gọi là Maha Shivaratri để kỷ niệm ơn cứu mạng của Shiva với muôn loài, còn khu rừng ấy nay là khu vực toạ lạc ngôi đền thiêng Pashupati (tên gọi cổ và nguyên thuỷ của Shiva, nghĩa là Người bảo vệ muôn loài).

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

HOLI FESTIVAL 2013 IN KATHMANDU

Mời các bạn xem tiếp bài viết chi tiết về lễ hội Holi vào ngày mai.

MỜI XEM THÊM CÁC LỄ HỘI HOLI CÁC NĂM TRƯỚC:


Holi Hai! Mấy chú nhóc này xịt nước pha màu vào người bạn



Bọn nhóc đuổi nhau trong các con hẻm, tóe nước vào nhau

Hay ném "LOLA" (trước đây dùng các bong bóng nhỏ, nay dùng bịch nylon để chứa nước như hình bên dưới)
LOLA (bong bóng chứa nước màu) dùng để ném/chọi vào nhau trong ngày Holi

Ha ha bị đổ nước từ trên cao xuống...

Phục kích trên các ban công sát đường để tạt nước xuống người qua lại là trò phổ biến trong ngày Holi

Í iiiiiiiiiii Chạy đi thôi họ có nước màu kìa

Hai bé xịt nước màu vào nhau (xưa kia dùng ống thụt bằng tre, nay dùng bằng nhựa)

Tây ba lô rất khoái ngày này và tham gia hết mình

Ahhhhhhhh chú nhóc "tấn công" kìa...

Một Tour guide đang dẫn một đoàn khách Tây đi chơi trong ngày này

Ai không muốn bị lấm màu và .... ƯỚT thì mặc áo mưa he he

O ho... Tung màu vào nhau

Và nước từ trên cao tạt xuống



"Tui cũng có nước màu cho bạn nè!" Tây ba lô cũng chơi tới bến lun


Ba chàng ngự lâm chuẩn bị bột màu và nước màu trước khi xông qua trận địa của các thanh niên địa phương

Năm nay Kathmandu tổ chức sân chơi HOLI ở quảng trường Basantapur với nhạc công suất lớn, với các DJ nepal nổi tiếng để giới trẻ có thể tập trung chơi hết mình

Hàng ngàn người tập trung về đây

Tây- ta (Nepali) cuồng nhiệt chơi đùa nhảy nhót theo điệu..... Gangnam Style


Các thiếu nữ là đối tượng được chăm sóc đặc biệt trong ngày hôm nay

Nhóm thanh niên này sắp diễu hàng bằng xe gắn máy khắp phố đây


Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

YẾU TỐ ÂM DƯƠNG TRONG MẬT TÔNG HIMALAYA


THẤY VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY : BÀI 1

LỜI DẪN: xin trích dịch lại đây vài đoạn trong bản thảo cuốn sách mà mình sắp xuất bản. Sách viết bằng tiếng Anh nên phải dịch lại he he... vì thế giọng văn chắc chắn là không thuần Việt rồi, mong các bạn thông cảm!

Tạm đặt tên cho đoạn này: YẾU TỐ ÂM DƯƠNG TRONG MẬT TÔNG HIMALAYA
 (trong sách đây là chương Ba, không có tên)

CHƯƠNG BA

 
Raj đưa cho Don mảnh giấy mà ông vừa vẽ trên đó, “Cậu có biết cái này là cái gì không?”
Don nhìn lướt qua tờ giấy, trên đó có một hình vẽ ngôi sao sáu cánh
 “Đừng nói với tôi đó là Ngôi sao David mà Dan Brown đã đề cập trong quyển Mật mã Da Vinci nha…” Don cười. Nhưng khi thấy vẻ mặt nghiêm túc của Raj, anh vội vàng nói, “Xin lỗi! Tôi nói đùa…”
  Raj gật đầu, “Không sao. Đấy thực sự là Ngôi sao David, biểu tượng của Do thái giáo và cộng đồng Do thái. Tuy nhiên, nó cũng được sử dụng bởi đạo Hồi, Thiên chúa giáo và các tôn giáo Đông phương khác. Trong đạo Hồi, nó được gọi là Khatem Sulayman-Con dấu của Solomon và Najmat Dawuud-Ngôi sao David. Rất nhiều thánh đường Hồi giáo trang trí ngôi sao sáu cánh này. Anh cũng đã biết rằng, Thiên chúa giáo cũng thờ phụng ngôi sao này.”
   Ông hoàng Nepal ngừng lại, nhấp một ngụm trà xanh, đoạn tiếp tục với một giọng nói chậm rãi, rõ ràng, “Tuy nhiên, ở Lục địa India, trước khi trở thành ngôi sao sáu cánh, biểu tượng này được sắp xếp như là hai tam giác chạm vào nhau như thế này…” Raj vẽ một hình khác:  “”.



  “Biểu tượng này được tìm thấy trên những lá bùa ở Mohenjo-daro trong cuộc khai quật năm 1920. Trên thực tế, anh đã trông thấy nó trong hình thức thực nếu anh đã từng thăm viếng một ngôi đền Shiva.” Raj mỉm cười.
   “Tôi…” Don ngơ ngác nhìn ông già.
“Linga và Jalari” Raj nhắc.
“Jalari? Bác muốn nói cái bầu đựng nước phía trên mỗi linga?”

“Chính xác! Chúng – Linga và Jalari- chính là hình thức nguyên thủy của các tam giác ngược chiều nhau. Trong Mật tông, chúng chuyển hóa thành muôn hình vạn trạng các sự phối hợp giữa hai tam giác ngược chiều nhau. Như vậy, hơn ba ngàn năm trước, nền văn minh của Thung lũng Indus đã tôn thờ hai tam giác ngược chiều nhau.”


   Don cẩn thận xem xét lại hình vẽ của Raj. Nó là một ngôi sao sáu cánh tạo thành bởi hai tam giác đều ngược chiều nhau và lồng vào nhau. Anh chợt nhớ đến sự tò mò của chính mình nhiều năm về trước khi anh lần đầu tiên trông thấy biểu tượng này ở những ngôi đền ở India và Nepal.

  “Có lẽ các tôn giáo khác nhau tạo nên ngôi sao sáu cánh này một cách độc lập với nhau, hoặc họ vay mượn từ người khác, hoặc cũng có thể có một mối liên hệ nào đó giữa các tôn giáo phương Đông thông qua biểu tượng này. Anh có biết rằng Jesus Christ đã từng ở Lục địa India hơn mười năm để học hỏi và giảng dạy triết lý và tôn giáo phương Đông trước khi lập ra Thiên chúa giáo nơi quê hương ông?”

   Don gật đầu. Anh đã từng đọc qua vài cuốn sách nghiên cứu về thông tin này. Không ngạc nhiên tại sao Thiên chúa giáo lại có nhiều khái niệm, tư tưởng tương đồng với Phật giáo.

  “Liên quan đến chủ đề của chúng ta, ngôi sao sáu cánh này có một vị trí rất quan trọng cả trong Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo.” Ông hoàng dẫn dắt chủ đề một cách khéo léo. “ Trong Mật tông Phật giáo, nó được gọi là Sanmukha-biểu tượng của Vajrayogini-vị nữ thần chính yếu. Mặt khác, Mật tông Phật giáo tin rằng Sanmukha biểu tượng hóa sự thống nhất của Pragya-tri thức hay sự giác ngộ và Upaya-sức chuyển hóa hay lực ÂM. Mật tông Hindu gọi nó là Satkon. Anh thấy đó, nó gồm hai tam giác. Cái chỉ mũi nhọn lên là biểu tượng của linga, là Shiva và cái chỉ xuống là biểu tượng của Shakti.”
  “Shakti là gì?” Don hỏi.
  “Bingo!” Ông già gật đầu vui vẻ. “Shakti là người nữ tương ứng với các vị thần và là một nữ thần. Trong trường hợp này, đó chính là Parvati, vợ của Shiva. Shiva và Parvati chính là những người đã truyền dạy Mật tông cho loài người. Nhân tiện, họ không phải là các vị thần có nguồn gốc Aryan. Có hai mảnh gốm phát hiện được ở Mohenjo-daro. Một là một con dấu hình chữ nhật với một hình tượng người nữ trong hình dạng tam giác chỉ xuống, đầu hướng xuống đất với một cái cây mọc ra từ tử cung của bà. Không nghi ngờ gì, đây chính là nguyên gốc của tam giác chỉ xuống. Mảnh gốm khác mô tả một vị thần với ba gương mặt ngồi trong tư thế yoga-tam giác hướng lên. Đấy chắc chắn là Pashupati- Thần bảo hộ của muôn loài mà sau này được người ta gọi là Shiva.”  (Chú thích: Mohenjo-daro thuộc nền Văn minh Indus của người Dravidian, trước khi người Aryan tràn vào Lục địa India. Vì thế ông Raj nói là Shiva và Parvati không phải là các vị thần có nguồn gốc Aryan).




  Ông hoàng già lại nhấp một hớp trà xanh, chừng như để cho Don có thời gian thẩm thấu những gì ông vừa nói. Đoạn ông đặt tách trà xuống và tiếp tục, “ Ngôi sao này là tuyệt đỉnh của Mật tông! Bởi vì nó chứa đựng toàn bộ năng lượng của vũ trụ : Shiva và Shakti, Đàn ông và Đàn Bà, Dương và Âm, Lên và Xuống, Hủy Diệt và Sáng Tạo, Sinh và Tử. Toàn bộ vũ trụ trong trạng thái cân bằng, toàn bộ các yếu tố phối hợp hài hòa lẫn nhau... Một Biểu tượng Hai-Mặt-Đối-Lập.”
 Raj nói thật chậm để nhấn mạnh cái mà ông muốn Don ghi sâu vào lòng:“Tính  Hai-Mặt-Đối-Lập chính là đặc điểm quan trọng nhất trong cả Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo!”

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

LỬA PHẬT – LẠI TRÒ RẺ TIỀN CÂU KHÁCH

 

 Các vị có thể dùng lửa gì cũng được để tạo ra một đám cháy thiêu hủy tất cả những gì còn sót lại, thiêu hủy những gì mà đáng ra giới trẻ nên học hỏi để có thể sống một đời sống nhân hậu, nhân ái, khoan dung và bất bạo động. Cổ súy tham sân si, ái hận tình thù là quyền của quý vị, nhưng nhớ là đừng đùa với “LỬA”. 

     Xin hãy “chừa ra” chữ Phật thiêng liêng của những người theo Phật giáo chúng tôi, đừng dùng chữ ấy vào những tựa đề câu khách kể cả khi anh làm phim nhảm nhí giải trí rẻ tiền. Tôn thờ chữ Phật với tinh thần bất bạo động, hòa bình là quyền của chúng tôi và chúng tôi có quyền bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình. Không cần bạo lực như tín đồ Hồi giáo hay Hindu kéo đến đốt phá rạp hát chiếu phim phỉ báng tôn giáo của họ, sức mạnh mềm “bất bạo động” của Phật giáo vẫn có thể chiến thắng bất cứ thế lực nào! Có khi nào các vị tưởng tượng ra cảnh các sản phẩm của quý vị bị toàn bộ Phật tử Việt Nam tẩy chay?
 **********************************************************************

    Tháng 12/2011, sau khi dự Global Buddhist Conference ở New Delhi, tôi làm một chuyến độc hành gọi là “Theo dấu Asoka” từ Bắc xuống Nam India viếng thăm hầu hết các di tích, địa điểm có liên quan đến vị hoàng đế India sinh ra trước Chúa Jesu khoảng 300 năm. Chỉ để có thể hiểu rõ thêm một con người vĩ đại.

Quốc kỳ với bánh xe chánh pháp ở giữa và quốc huy là tượng sư tử của Asoka - India ngày nay
   Asoka – Hán Việt là A Dục còn Hindi hay Nepali đọc nuốt mất âm a là Asok (A-sók) – là  vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử India đã tạo lập được một sự nghiệp, cả về chính trị lẫn tôn giáo, mà không một vị hoàng đế nào của India sánh nổi. Lãnh thổ của đế chế Maurya (Maurya nghĩa là chim công) thời Asoka là lãnh thổ rộng lớn nhất mà India từng đạt được trong lịch sử cho đến ngày nay, trải dài từ biên giới Iran cho đến tận Myanmar; bao gồm toàn bộ tiểu lục địa India (Subcontinent), Pakistan, Afghanistan, Sri Lanka, Bangladesh, phía Nam Nepal. Không phải ngẫu nhiên mà nước Cộng hòa India ngày nay lại dùng hình ảnh bánh xe pháp (Dharmachakra = Wheel of Law) từ trụ đá Sarnath của Asoka trên quốc kỳ và hình tượng sư tử cũng trên trụ đá ấy làm quốc huy/biểu tượng quốc gia.
 Vào năm 281 trước Công nguyên, Asoka dẫn hùng binh đi chinh phục Kalinga - tiểu quốc độc lập cuối cùng trên lục địa India. Cuộc chinh phục đẫm máu ấy đã được chính Asoka cho khắc vào bia đá để lại cho muôn đời sau. Nhưng khác với tất cả những hoàng đế, vua chúa ở khắp nơi trên trái đất này – những người tự hào kể về các chiến công của mình – Asoka cho ghi lại sự hối hận của ông vì đã gây ra chiến tranh, tàn sát hàng trăm ngàn người vô tội.
  “Kalinga đã bị chinh phục bởi Devanam Piyadasi (vương hiệu của Asoka) sau khi Ngài lên ngôi được tám năm. 150.000 người đã bị bắt làm nô lệ, 100.000 người bị tàn sát trong chiến trận và gấp nhiều lần con số đó đã chết.

Sau trận Kalinga, Ngài đã bắt đầu xây dựng niềm tin vào Chánh Pháp (Dharma). Ngài đã vô cùng hối hận vì đã xâm chiếm Kalinga, đã chinh phục một vùng-đất-không-bao-giờ-bị-chinh-phục, làm cho dân chúng xứ ấy bị tàn sát, và bị bắt làm nô lệ. Đấy là nỗi buồn và lòng hối hận vô cùng sâu sắc của Ngài.”

      (Tạm dịch từ bia đá của Asoka ở Gujarat, Bắc India. Asoka tế nhị đến mức không cho khắc bia này ở Kalinga mà ở một nơi cách xa nơi đó hàng ngàn km).

   Trận chiến Kalinga là trận chiến cuối cùng của vị hoàng đế uy vũ, bất khả chiến bại Asoka. Ngồi trên một đỉnh núi gần đấy, nhìn xuống bãi chiến trường phơi xác hàng trăm ngàn người, Asoka hốt nhiên “Đại Ngộ”. Ông quy y Phật giáo, từ bỏ mọi hình thức bạo lực, chiến tranh và toàn tâm toàn ý hiến dâng toàn bộ phần còn lại của đời mình để phục vụ đồng loại thông qua chánh pháp. Thấm nhuần Phật pháp, vị hoàng đế hùng cường đã từ bỏ bạo lực.


   Đạo Phật là một đạo của hoà bình và nhân bản. Ngay từ thời Đức Phật, chính Ngài đã dạy các đệ tử tính “NHẪN”. Bản thân Ngài từng trải qua nhiều lần bị xúc xiểm, nhục mạ, thậm chí bị tấn công bằng vũ lực nhưng không một lần Ngài dùng “lửa” để dập “lửa”. Các đệ tử của Ngài có người đi truyền đạo ở phương xa bị người địa phương dùng vũ khí tấn công và giết chết nhưng vẫn từ hòa, không phản kháng và oán thán. Có đại đệ tử sử dụng “thần thông” (Mục Kiền Liên phi thân như trong truyện chưởng) còn bị Ngài quở trách vì mục tiêu của người tu tập theo đạo Phật là “chứng ngộ” chứ không phải thần thông.
  Cũng Asoka đã cho một người em của mình bài học về sự tu tập của các nhà sư Phật giáo. Khi ông em này thắc mắc về chuyện “dục” của các nhà sư. Asoka đã “gài bẫy” ông em làm ông em tưởng là mình phạm tội thật và đi đến khủng hoảng bởi cái án tử sẽ đến vào ngày kế tiếp. Khi ấy Asoka mới ôn tồn bảo với em rằng, các nhà sư chính là sống trong hoàn cảnh ấy. Họ tận tâm tận lực lo tu tập nhằm ra khỏi vòng sinh tử vì cái hạn sống của họ trên thế gian này tính đếm bằng hàng phần nghìn khoảnh khắc. Không đủ thời gian để tu tập thì lòng đâu mà nghĩ đến sắc dục, tham sân si.
 Cũng như thế, các cao tăng không đủ thời gian để tu tập thì thời gian đâu mà luyện tập võ công thượng thừa rồi dùng kungfu đó đi tước đoạt mạng sống kẻ khác, dù cho kẻ đó có tạo ra Nghiệp nặng đến cỡ nào? Hãy tìm hiểu cách Đức Phật Sakya cư xử với Devedatta (Đề Bà Đạt Đa), kẻ từng nhiều lần mưu sát Ngài.

  Ngay lúc Đức Phật còn tại thế, vương quốc Kosala đã tấn công và tiêu diệt vương quốc Sakya của dòng họ Ngài. Trước đó, Phật Sakya đã truyền đạo cho hầu hết các quý tộc họ Sakya; và các vương tử  dù còn sống đời tại gia vẫn tuân theo lời dạy bất bạo động của Phật. Khi quân đội Kosala bắt đầu tấn công vào lãnh thổ Sakya, vài vị vương tử Sakya đã kháng cự lại. Tuy vậy, các vị vương tử này đã bị Hội đồng Sakya (như quốc hội ngày nay) quở trách vì đã dùng bạo lực, trái với lời dạy của Phật. Cuối cùng, tất cả các quý tộc Sakya (cả nam phụ lão ấu) thản nhiên nhận lấy cái chết và chứng kiến thành Kapilavastu bị san phẳng mà không có một hành động kháng cự. Một vài quý tộc Sakya đã mang gia đình lưu vong đến các xứ khác, và cho đến tận ngày nay họ Sakya vẫn tuân theo lời dạy bất bạo động của Phật. Kể cả dân thường của vương quốc Sakya xưa kia, nay là người Tharu, thì cũng thấm nhuần tinh thần bất bạo động. Người Tharu là tộc người hòa hiếu nhất ở Nepal ngày nay; đến nỗi bị cướp sạch tất cả đất đai, làng xóm, bị đẩy vào cảnh nghèo khó nhất vẫn không bao giờ phản kháng.  
 Đấy là chuyện xưa. Chuyện ngày nay dễ thấy nhất là Tibet. Chỉ cần Đức Dalai Lama im lặng đồng ý là người Tây Tạng sẵn sàng cầm vũ khí, chiến đấu đến người cuối cùng đánh đuổi bọn Hán Cộng xâm lược cút khỏi quê hương Tây Tạng của họ. Thế nhưng, vị lãnh đạo Phật giáo và chính phủ Tây Tạng đã luôn nhắc nhở người Tây Tạng về tinh thần bất bạo động của nhà Phật. Nếu không có sự kềm chế từ Dalai Lama, cuộc chiến tranh giải phóng Tây Tạng đã nổ ra từ nửa thế kỷ nay rồi. Mà người Tây Tạng thì không hèn nhát! Đã có hơn 100 người Tây Tạng dám tẩm xăng vào người và tự thiêu như một hình thức phản kháng bất bạo động trong vòng vài năm gần đây.

  Không phải vô cớ mà trận chiến Kalinga lại dữ dội và đẫm máu đến như thế. Dân Kalinga là người hiếu võ và rất giỏi võ. Có thể nói đó chính là cái nôi của võ thuật châu Á ngày nay. Vì sao?  




  
   Dân Kalinga rất chuộng và rất giỏi võ. Đây là tượng tại quần thể đền nổi tiếng Konark-TK 13


  Khoảng thế kỷ thứ sáu, một nhà sư gốc gác từ Kalinga đã vượt biển đến Trung Quốc truyền bá Thiền Tông. Sự nghiệp hoằng pháp của ông ít được người ngoài đạo Phật biết đến nhưng một sự nghiệp khác đã ghi tên ông vào lịch sử thế giới như là Tổ Sư của võ học Trung Hoa. Nhà sư ấy là Bodhidharma ( Việt: Đạo Pháp, Hán: Bồ Đề Đạt Ma). Vâng, Bồ Đề Đạt Ma đã mang võ thuật của vùng Kalinga truyền sang Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể không đồng ý với nhau nhiều thứ, nhưng tất cả mọi người Trung Quốc đều phải công nhận rằng nhà sư India Bồ Đề Đạt Ma là tổ sư võ học Trung Hoa. Sau này, một huyền thoại đã lan truyền khắp thế giới về ngôi chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn nơi Bồ Đề Đạt Ma tu luyện và dạy võ cho các đệ tử.

Bồ Đề Đạt Ma
 Thật ra, huyền thoại về các nhà sư giỏi võ của Thiếu Lâm chỉ bắt nguồn từ khoảng giữa thế kỷ 20 mà thôi; nhờ công tiếp thị của phim ảnh - truyện chưởng Hongkong và Đài Loan. Bồ Đề Đạt Ma truyền thụ võ nghệ cho các đệ tử của ông để kiện toàn sức khỏe khi sống ở nơi núi rừng như là một phương pháp Yoga. Hàng ngàn năm đã trôi qua, Phật giáo Trung quốc đã nhiều lần gặp kiếp nạn phá chùa, diệt sư nhưng không hề có chuyện các nhà sư cầm vũ khí tham gia chiến tranh, chống cự triều đình hay giết người. Tinh thần Phật giáo là chữ Nhẫn, không dung chứa bất cứ hình thức bạo lực nào. Người tu tập theo Phật pháp nhất thiết phải biết chữ Duyên, chữ Nhân, chữ Quả. Gieo nhân nào gặt quả ấy. Vậy thì làm sao có chuyện một nhà sư cầm vũ khí đi giết người như ngóe?
  Lúc còn trẻ, bồng bột, nông nổi, cạn nghĩ, tôi đã từng mê say tiểu thuyết Kim Dung. Thế nhưng càng nghiên cứu nhiều về đạo Phật, tôi lại càng nhận ra rằng Kim Dung là một kẻ phỉ báng đạo Phật đẳng cấp thượng thừa. Các nhà sư, ngay cả nhà sư Thiếu Lâm Tự, trong truyện Kim Dung hầu hết là những kẻ tham, sân, si lòng đầy tà niệm, dục vọng. Và Kim Dung chính là kẻ đã xuyên tạc thành công nhất đạo Phật thông qua ngòi bút đề cao bạo lực của mình. Đọc truyện chưởng, nhất là độc giả phương Tây, còn ai nghĩ rằng đạo Phật là một đạo của hòa bình và lòng nhân bản?
  Sau truyện feulleiton (truyện giải trí đăng nhiều kỳ trên nhật báo)  kỹ nghệ điện ảnh đã nâng tinh thần phỉ báng đạo Phật lên tầm rộng lớn hơn, phủ khắp toàn cầu. Phim Hongkong đã làm khá tốt chuyện này. Tuy thế nói về phim ảnh thì không ai hơn được người Mỹ. Nói về bạo lực, dùng lửa để dập lửa thì cũng không ai hơn người Mỹ. Và mang chất Mỹ nhất chính là các phim cao bồi Viễn Tây.

   Không lạ khi một tay làm phim trưởng thành từ Holywood lại copy, chắp vá hổ lốn các loại “classic” cao bồi và kungfu nhằm làm một phim giải trí. Chưa được hân hạnh xem phim này, nhưng lướt qua trailer trên Youtube và qua các thông tin được tiết lộ có chủ đích cho báo giới thời gian qua cũng dễ nhận biết đây là một phim thuần giải trí có thể tóm tắt qua các từ: ái-hận-tình-thù, dục, bạo lực, tham-sân-si. Chuyện không có gì đáng nói nếu tác giả và nhà sản xuất cứ làm phim, cứ tiếp thị, cứ thu hồi vốn đầu tư… Đàng này họ lại lôi kéo chữ Phật vào làm tựa đề cho một bộ phim-câu chuyện chẳng có gì dính líu đến Phật pháp, thậm chí còn phỉ báng đạo Phật nếu các vai nhà sư trong phim sử dụng võ lực, bạo lực để đạt cái mình muốn.


Vai cao tăng trong phim Lửa Phật

Tác giả và nhà sản xuất hứa hẹn sẽ có nhiều pha bạo lực thế này
  
  Tác giả và nhà sản xuất của phim “Lửa Phật” sắp phát hành luôn miệng khẳng định đây không phải là phim về đề tài tôn giáo, luôn miệng mời gọi khán giả vào rạp xem phim đó mà họ hứa hẹn là đầy rẫy những cảnh đấm đá, những màn cụp lạc hấp dẫn. Vậy thì tại sao các vị lại dùng một danh từ thiêng liêng của tôn giáo chúng tôi làm tựa đề cho một bộ phim giải trí có nội dung hoàn toàn ngược lại với tinh thần Phật giáo?

  Chữ Phật (Buddha) là một danh hiệu từ thời cổ đại ở lục địa India dùng để tôn xưng một người tu tập đạt tới bậc Giác Ngộ. Về mặt lịch sử, cho đến thời Asoka, ông đã dựng 3 trụ đá xác nhận có ba vị được gọi là Phật (Buddha), Đức Phật Sakya Muni là một trong ba vị ấy. Và suốt 2500 năm sau ngày Phật Sakya nhập Niết bàn thì không một vị nào trên trái đất này được công nhận chứng quả vị Phật nữa. Như vậy quả vị Phật không phải dễ đạt đến cho chúng sinh trên trái đất.

     Đạo Phật của chúng tôi là một tôn giáo của những người noi theo gương và lời dạy bảo của các vị Phật tu tập theo hạnh “KHÔNG BẠO LỰC”, với ước nguyện một thế giới hòa bình.
     Không phải chỉ tìm đọc ba mứa, dăm bữa nửa ngày một vài cuốn sách nói về đạo Phật thì có thể vỗ ngực tự xưng mình “hiểu” đạo Phật. Càng lầm lạc hơn khi nhìn đạo Phật qua lăng kính truyện chưởng Kim Dung ngập tràn sân si bạo lực. Xin hãy học hỏi Asoka về chuyện từ bỏ bạo lực khi thấm nhuần Phật pháp.
 
   Xin quý vị hãy trưng ra một ví dụ thực tế chứng minh ít nhất là một cao tăng lại có võ công thượng thừa và còn đi đánh lộn. Nếu không chứng minh được thì rõ ràng là quý vị đã phỉ báng chữ Phật của tôn giáo chúng tôi.

  Các vị có thể dùng lửa gì cũng được để tạo ra một đám cháy thiêu hủy tất cả những gì còn sót lại, thiêu hủy những gì mà đáng ra giới trẻ nên học hỏi để có thể sống một đời sống nhân hậu, nhân ái, khoan dung và bất bạo động. Cổ súy tham sân si, ái hận tình thù là quyền của quý vị, nhưng nhớ là đừng đùa với “LỬA”.
  
    Xin hãy “chừa ra” chữ Phật thiêng liêng của những người theo Phật giáo chúng tôi, đừng dùng chữ ấy vào những tựa đề câu khách kể cả khi anh làm phim nhảm nhí giải trí rẻ tiền. Tôn thờ chữ Phật với tinh thần bất bạo động, hòa bình là quyền của chúng tôi và chúng tôi có quyền bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình. Không cần bạo lực như tín đồ Hồi giáo hay Hindu kéo đến đốt phá rạp hát chiếu phim phỉ báng tôn giáo của họ, sức mạnh mềm “bất bạo động” của Phật giáo vẫn có thể chiến thắng bất cứ thế lực nào! Có khi nào các vị tưởng tượng ra cảnh các sản phẩm của quý vị bị toàn bộ Phật tử Việt Nam tẩy chay?
  
  Bạo lực chỉ kêu gọi thêm bạo lực và điều đó không liên quan gì đến chữ Phật! Cửa Phật, nhà Phật thì không bao giờ có bạo lực, võ công.
  Luật Nhân-Quả, gieo Nghiệp gì thì nhận Quả tương ứng mà thôi!
 

  Nepal, quê hương Đức Phật Sakya
  17/03/2013

  Nguyễn Phú

PS: Có lẽ các vị nên học hỏi chữ nhẫn của một tổ chức tự nhận là đại diện cho Phật giáo Việt Nam hiện tại, có cả một đại gia làm phát ngôn nhân mà suốt thời gian qua xảy ra rất nhiều chuyện ảnh hưởng tới thanh danh của Phật giáo Việt Nam thế nhưng họ lại không bao giờ tỏ rõ thái độ của mình với những sự xúc phạm tôn giáo, lạm dụng ngôn từ. (Không biết là nên vui hay nên buồn chỗ này!)