Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Phật giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

YẾU TỐ ÂM DƯƠNG TRONG MẬT TÔNG HIMALAYA


THẤY VẬY MÀ KHÔNG PHẢI VẬY : BÀI 1

LỜI DẪN: xin trích dịch lại đây vài đoạn trong bản thảo cuốn sách mà mình sắp xuất bản. Sách viết bằng tiếng Anh nên phải dịch lại he he... vì thế giọng văn chắc chắn là không thuần Việt rồi, mong các bạn thông cảm!

Tạm đặt tên cho đoạn này: YẾU TỐ ÂM DƯƠNG TRONG MẬT TÔNG HIMALAYA
 (trong sách đây là chương Ba, không có tên)

CHƯƠNG BA

 
Raj đưa cho Don mảnh giấy mà ông vừa vẽ trên đó, “Cậu có biết cái này là cái gì không?”
Don nhìn lướt qua tờ giấy, trên đó có một hình vẽ ngôi sao sáu cánh
 “Đừng nói với tôi đó là Ngôi sao David mà Dan Brown đã đề cập trong quyển Mật mã Da Vinci nha…” Don cười. Nhưng khi thấy vẻ mặt nghiêm túc của Raj, anh vội vàng nói, “Xin lỗi! Tôi nói đùa…”
  Raj gật đầu, “Không sao. Đấy thực sự là Ngôi sao David, biểu tượng của Do thái giáo và cộng đồng Do thái. Tuy nhiên, nó cũng được sử dụng bởi đạo Hồi, Thiên chúa giáo và các tôn giáo Đông phương khác. Trong đạo Hồi, nó được gọi là Khatem Sulayman-Con dấu của Solomon và Najmat Dawuud-Ngôi sao David. Rất nhiều thánh đường Hồi giáo trang trí ngôi sao sáu cánh này. Anh cũng đã biết rằng, Thiên chúa giáo cũng thờ phụng ngôi sao này.”
   Ông hoàng Nepal ngừng lại, nhấp một ngụm trà xanh, đoạn tiếp tục với một giọng nói chậm rãi, rõ ràng, “Tuy nhiên, ở Lục địa India, trước khi trở thành ngôi sao sáu cánh, biểu tượng này được sắp xếp như là hai tam giác chạm vào nhau như thế này…” Raj vẽ một hình khác:  “”.



  “Biểu tượng này được tìm thấy trên những lá bùa ở Mohenjo-daro trong cuộc khai quật năm 1920. Trên thực tế, anh đã trông thấy nó trong hình thức thực nếu anh đã từng thăm viếng một ngôi đền Shiva.” Raj mỉm cười.
   “Tôi…” Don ngơ ngác nhìn ông già.
“Linga và Jalari” Raj nhắc.
“Jalari? Bác muốn nói cái bầu đựng nước phía trên mỗi linga?”

“Chính xác! Chúng – Linga và Jalari- chính là hình thức nguyên thủy của các tam giác ngược chiều nhau. Trong Mật tông, chúng chuyển hóa thành muôn hình vạn trạng các sự phối hợp giữa hai tam giác ngược chiều nhau. Như vậy, hơn ba ngàn năm trước, nền văn minh của Thung lũng Indus đã tôn thờ hai tam giác ngược chiều nhau.”


   Don cẩn thận xem xét lại hình vẽ của Raj. Nó là một ngôi sao sáu cánh tạo thành bởi hai tam giác đều ngược chiều nhau và lồng vào nhau. Anh chợt nhớ đến sự tò mò của chính mình nhiều năm về trước khi anh lần đầu tiên trông thấy biểu tượng này ở những ngôi đền ở India và Nepal.

  “Có lẽ các tôn giáo khác nhau tạo nên ngôi sao sáu cánh này một cách độc lập với nhau, hoặc họ vay mượn từ người khác, hoặc cũng có thể có một mối liên hệ nào đó giữa các tôn giáo phương Đông thông qua biểu tượng này. Anh có biết rằng Jesus Christ đã từng ở Lục địa India hơn mười năm để học hỏi và giảng dạy triết lý và tôn giáo phương Đông trước khi lập ra Thiên chúa giáo nơi quê hương ông?”

   Don gật đầu. Anh đã từng đọc qua vài cuốn sách nghiên cứu về thông tin này. Không ngạc nhiên tại sao Thiên chúa giáo lại có nhiều khái niệm, tư tưởng tương đồng với Phật giáo.

  “Liên quan đến chủ đề của chúng ta, ngôi sao sáu cánh này có một vị trí rất quan trọng cả trong Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo.” Ông hoàng dẫn dắt chủ đề một cách khéo léo. “ Trong Mật tông Phật giáo, nó được gọi là Sanmukha-biểu tượng của Vajrayogini-vị nữ thần chính yếu. Mặt khác, Mật tông Phật giáo tin rằng Sanmukha biểu tượng hóa sự thống nhất của Pragya-tri thức hay sự giác ngộ và Upaya-sức chuyển hóa hay lực ÂM. Mật tông Hindu gọi nó là Satkon. Anh thấy đó, nó gồm hai tam giác. Cái chỉ mũi nhọn lên là biểu tượng của linga, là Shiva và cái chỉ xuống là biểu tượng của Shakti.”
  “Shakti là gì?” Don hỏi.
  “Bingo!” Ông già gật đầu vui vẻ. “Shakti là người nữ tương ứng với các vị thần và là một nữ thần. Trong trường hợp này, đó chính là Parvati, vợ của Shiva. Shiva và Parvati chính là những người đã truyền dạy Mật tông cho loài người. Nhân tiện, họ không phải là các vị thần có nguồn gốc Aryan. Có hai mảnh gốm phát hiện được ở Mohenjo-daro. Một là một con dấu hình chữ nhật với một hình tượng người nữ trong hình dạng tam giác chỉ xuống, đầu hướng xuống đất với một cái cây mọc ra từ tử cung của bà. Không nghi ngờ gì, đây chính là nguyên gốc của tam giác chỉ xuống. Mảnh gốm khác mô tả một vị thần với ba gương mặt ngồi trong tư thế yoga-tam giác hướng lên. Đấy chắc chắn là Pashupati- Thần bảo hộ của muôn loài mà sau này được người ta gọi là Shiva.”  (Chú thích: Mohenjo-daro thuộc nền Văn minh Indus của người Dravidian, trước khi người Aryan tràn vào Lục địa India. Vì thế ông Raj nói là Shiva và Parvati không phải là các vị thần có nguồn gốc Aryan).




  Ông hoàng già lại nhấp một hớp trà xanh, chừng như để cho Don có thời gian thẩm thấu những gì ông vừa nói. Đoạn ông đặt tách trà xuống và tiếp tục, “ Ngôi sao này là tuyệt đỉnh của Mật tông! Bởi vì nó chứa đựng toàn bộ năng lượng của vũ trụ : Shiva và Shakti, Đàn ông và Đàn Bà, Dương và Âm, Lên và Xuống, Hủy Diệt và Sáng Tạo, Sinh và Tử. Toàn bộ vũ trụ trong trạng thái cân bằng, toàn bộ các yếu tố phối hợp hài hòa lẫn nhau... Một Biểu tượng Hai-Mặt-Đối-Lập.”
 Raj nói thật chậm để nhấn mạnh cái mà ông muốn Don ghi sâu vào lòng:“Tính  Hai-Mặt-Đối-Lập chính là đặc điểm quan trọng nhất trong cả Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo!”

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

LỬA PHẬT – LẠI TRÒ RẺ TIỀN CÂU KHÁCH

 

 Các vị có thể dùng lửa gì cũng được để tạo ra một đám cháy thiêu hủy tất cả những gì còn sót lại, thiêu hủy những gì mà đáng ra giới trẻ nên học hỏi để có thể sống một đời sống nhân hậu, nhân ái, khoan dung và bất bạo động. Cổ súy tham sân si, ái hận tình thù là quyền của quý vị, nhưng nhớ là đừng đùa với “LỬA”. 

     Xin hãy “chừa ra” chữ Phật thiêng liêng của những người theo Phật giáo chúng tôi, đừng dùng chữ ấy vào những tựa đề câu khách kể cả khi anh làm phim nhảm nhí giải trí rẻ tiền. Tôn thờ chữ Phật với tinh thần bất bạo động, hòa bình là quyền của chúng tôi và chúng tôi có quyền bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình. Không cần bạo lực như tín đồ Hồi giáo hay Hindu kéo đến đốt phá rạp hát chiếu phim phỉ báng tôn giáo của họ, sức mạnh mềm “bất bạo động” của Phật giáo vẫn có thể chiến thắng bất cứ thế lực nào! Có khi nào các vị tưởng tượng ra cảnh các sản phẩm của quý vị bị toàn bộ Phật tử Việt Nam tẩy chay?
 **********************************************************************

    Tháng 12/2011, sau khi dự Global Buddhist Conference ở New Delhi, tôi làm một chuyến độc hành gọi là “Theo dấu Asoka” từ Bắc xuống Nam India viếng thăm hầu hết các di tích, địa điểm có liên quan đến vị hoàng đế India sinh ra trước Chúa Jesu khoảng 300 năm. Chỉ để có thể hiểu rõ thêm một con người vĩ đại.

Quốc kỳ với bánh xe chánh pháp ở giữa và quốc huy là tượng sư tử của Asoka - India ngày nay
   Asoka – Hán Việt là A Dục còn Hindi hay Nepali đọc nuốt mất âm a là Asok (A-sók) – là  vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử India đã tạo lập được một sự nghiệp, cả về chính trị lẫn tôn giáo, mà không một vị hoàng đế nào của India sánh nổi. Lãnh thổ của đế chế Maurya (Maurya nghĩa là chim công) thời Asoka là lãnh thổ rộng lớn nhất mà India từng đạt được trong lịch sử cho đến ngày nay, trải dài từ biên giới Iran cho đến tận Myanmar; bao gồm toàn bộ tiểu lục địa India (Subcontinent), Pakistan, Afghanistan, Sri Lanka, Bangladesh, phía Nam Nepal. Không phải ngẫu nhiên mà nước Cộng hòa India ngày nay lại dùng hình ảnh bánh xe pháp (Dharmachakra = Wheel of Law) từ trụ đá Sarnath của Asoka trên quốc kỳ và hình tượng sư tử cũng trên trụ đá ấy làm quốc huy/biểu tượng quốc gia.
 Vào năm 281 trước Công nguyên, Asoka dẫn hùng binh đi chinh phục Kalinga - tiểu quốc độc lập cuối cùng trên lục địa India. Cuộc chinh phục đẫm máu ấy đã được chính Asoka cho khắc vào bia đá để lại cho muôn đời sau. Nhưng khác với tất cả những hoàng đế, vua chúa ở khắp nơi trên trái đất này – những người tự hào kể về các chiến công của mình – Asoka cho ghi lại sự hối hận của ông vì đã gây ra chiến tranh, tàn sát hàng trăm ngàn người vô tội.
  Kalinga đã bị chinh phục bởi Devanam Piyadasi (vương hiệu của Asoka) sau khi Ngài lên ngôi được tám năm. 150.000 người đã bị bắt làm nô lệ, 100.000 người bị tàn sát trong chiến trận và gấp nhiều lần con số đó đã chết.

Sau trận Kalinga, Ngài đã bắt đầu xây dựng niềm tin vào Chánh Pháp (Dharma). Ngài đã vô cùng hối hận vì đã xâm chiếm Kalinga, đã chinh phục một vùng-đất-không-bao-giờ-bị-chinh-phục, làm cho dân chúng xứ ấy bị tàn sát, và bị bắt làm nô lệ. Đấy là nỗi buồn và lòng hối hận vô cùng sâu sắc của Ngài.”

      (Tạm dịch từ bia đá của Asoka ở Gujarat, Bắc India. Asoka tế nhị đến mức không cho khắc bia này ở Kalinga mà ở một nơi cách xa nơi đó hàng ngàn km).

   Trận chiến Kalinga là trận chiến cuối cùng của vị hoàng đế uy vũ, bất khả chiến bại Asoka. Ngồi trên một đỉnh núi gần đấy, nhìn xuống bãi chiến trường phơi xác hàng trăm ngàn người, Asoka hốt nhiên “Đại Ngộ”. Ông quy y Phật giáo, từ bỏ mọi hình thức bạo lực, chiến tranh và toàn tâm toàn ý hiến dâng toàn bộ phần còn lại của đời mình để phục vụ đồng loại thông qua chánh pháp. Thấm nhuần Phật pháp, vị hoàng đế hùng cường đã từ bỏ bạo lực.


   Đạo Phật là một đạo của hoà bình và nhân bản. Ngay từ thời Đức Phật, chính Ngài đã dạy các đệ tử tính “NHẪN”. Bản thân Ngài từng trải qua nhiều lần bị xúc xiểm, nhục mạ, thậm chí bị tấn công bằng vũ lực nhưng không một lần Ngài dùng “lửa” để dập “lửa”. Các đệ tử của Ngài có người đi truyền đạo ở phương xa bị người địa phương dùng vũ khí tấn công và giết chết nhưng vẫn từ hòa, không phản kháng và oán thán. Có đại đệ tử sử dụng “thần thông” (Mục Kiền Liên phi thân như trong truyện chưởng) còn bị Ngài quở trách vì mục tiêu của người tu tập theo đạo Phật là “chứng ngộ” chứ không phải thần thông.
  Cũng Asoka đã cho một người em của mình bài học về sự tu tập của các nhà sư Phật giáo. Khi ông em này thắc mắc về chuyện “dục” của các nhà sư. Asoka đã “gài bẫy” ông em làm ông em tưởng là mình phạm tội thật và đi đến khủng hoảng bởi cái án tử sẽ đến vào ngày kế tiếp. Khi ấy Asoka mới ôn tồn bảo với em rằng, các nhà sư chính là sống trong hoàn cảnh ấy. Họ tận tâm tận lực lo tu tập nhằm ra khỏi vòng sinh tử vì cái hạn sống của họ trên thế gian này tính đếm bằng hàng phần nghìn khoảnh khắc. Không đủ thời gian để tu tập thì lòng đâu mà nghĩ đến sắc dục, tham sân si.
 Cũng như thế, các cao tăng không đủ thời gian để tu tập thì thời gian đâu mà luyện tập võ công thượng thừa rồi dùng kungfu đó đi tước đoạt mạng sống kẻ khác, dù cho kẻ đó có tạo ra Nghiệp nặng đến cỡ nào? Hãy tìm hiểu cách Đức Phật Sakya cư xử với Devedatta (Đề Bà Đạt Đa), kẻ từng nhiều lần mưu sát Ngài.

  Ngay lúc Đức Phật còn tại thế, vương quốc Kosala đã tấn công và tiêu diệt vương quốc Sakya của dòng họ Ngài. Trước đó, Phật Sakya đã truyền đạo cho hầu hết các quý tộc họ Sakya; và các vương tử  dù còn sống đời tại gia vẫn tuân theo lời dạy bất bạo động của Phật. Khi quân đội Kosala bắt đầu tấn công vào lãnh thổ Sakya, vài vị vương tử Sakya đã kháng cự lại. Tuy vậy, các vị vương tử này đã bị Hội đồng Sakya (như quốc hội ngày nay) quở trách vì đã dùng bạo lực, trái với lời dạy của Phật. Cuối cùng, tất cả các quý tộc Sakya (cả nam phụ lão ấu) thản nhiên nhận lấy cái chết và chứng kiến thành Kapilavastu bị san phẳng mà không có một hành động kháng cự. Một vài quý tộc Sakya đã mang gia đình lưu vong đến các xứ khác, và cho đến tận ngày nay họ Sakya vẫn tuân theo lời dạy bất bạo động của Phật. Kể cả dân thường của vương quốc Sakya xưa kia, nay là người Tharu, thì cũng thấm nhuần tinh thần bất bạo động. Người Tharu là tộc người hòa hiếu nhất ở Nepal ngày nay; đến nỗi bị cướp sạch tất cả đất đai, làng xóm, bị đẩy vào cảnh nghèo khó nhất vẫn không bao giờ phản kháng.  
 Đấy là chuyện xưa. Chuyện ngày nay dễ thấy nhất là Tibet. Chỉ cần Đức Dalai Lama im lặng đồng ý là người Tây Tạng sẵn sàng cầm vũ khí, chiến đấu đến người cuối cùng đánh đuổi bọn Hán Cộng xâm lược cút khỏi quê hương Tây Tạng của họ. Thế nhưng, vị lãnh đạo Phật giáo và chính phủ Tây Tạng đã luôn nhắc nhở người Tây Tạng về tinh thần bất bạo động của nhà Phật. Nếu không có sự kềm chế từ Dalai Lama, cuộc chiến tranh giải phóng Tây Tạng đã nổ ra từ nửa thế kỷ nay rồi. Mà người Tây Tạng thì không hèn nhát! Đã có hơn 100 người Tây Tạng dám tẩm xăng vào người và tự thiêu như một hình thức phản kháng bất bạo động trong vòng vài năm gần đây.

  Không phải vô cớ mà trận chiến Kalinga lại dữ dội và đẫm máu đến như thế. Dân Kalinga là người hiếu võ và rất giỏi võ. Có thể nói đó chính là cái nôi của võ thuật châu Á ngày nay. Vì sao?  




  
   Dân Kalinga rất chuộng và rất giỏi võ. Đây là tượng tại quần thể đền nổi tiếng Konark-TK 13


  Khoảng thế kỷ thứ sáu, một nhà sư gốc gác từ Kalinga đã vượt biển đến Trung Quốc truyền bá Thiền Tông. Sự nghiệp hoằng pháp của ông ít được người ngoài đạo Phật biết đến nhưng một sự nghiệp khác đã ghi tên ông vào lịch sử thế giới như là Tổ Sư của võ học Trung Hoa. Nhà sư ấy là Bodhidharma ( Việt: Đạo Pháp, Hán: Bồ Đề Đạt Ma). Vâng, Bồ Đề Đạt Ma đã mang võ thuật của vùng Kalinga truyền sang Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể không đồng ý với nhau nhiều thứ, nhưng tất cả mọi người Trung Quốc đều phải công nhận rằng nhà sư India Bồ Đề Đạt Ma là tổ sư võ học Trung Hoa. Sau này, một huyền thoại đã lan truyền khắp thế giới về ngôi chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn nơi Bồ Đề Đạt Ma tu luyện và dạy võ cho các đệ tử.

Bồ Đề Đạt Ma
 Thật ra, huyền thoại về các nhà sư giỏi võ của Thiếu Lâm chỉ bắt nguồn từ khoảng giữa thế kỷ 20 mà thôi; nhờ công tiếp thị của phim ảnh - truyện chưởng Hongkong và Đài Loan. Bồ Đề Đạt Ma truyền thụ võ nghệ cho các đệ tử của ông để kiện toàn sức khỏe khi sống ở nơi núi rừng như là một phương pháp Yoga. Hàng ngàn năm đã trôi qua, Phật giáo Trung quốc đã nhiều lần gặp kiếp nạn phá chùa, diệt sư nhưng không hề có chuyện các nhà sư cầm vũ khí tham gia chiến tranh, chống cự triều đình hay giết người. Tinh thần Phật giáo là chữ Nhẫn, không dung chứa bất cứ hình thức bạo lực nào. Người tu tập theo Phật pháp nhất thiết phải biết chữ Duyên, chữ Nhân, chữ Quả. Gieo nhân nào gặt quả ấy. Vậy thì làm sao có chuyện một nhà sư cầm vũ khí đi giết người như ngóe?
  Lúc còn trẻ, bồng bột, nông nổi, cạn nghĩ, tôi đã từng mê say tiểu thuyết Kim Dung. Thế nhưng càng nghiên cứu nhiều về đạo Phật, tôi lại càng nhận ra rằng Kim Dung là một kẻ phỉ báng đạo Phật đẳng cấp thượng thừa. Các nhà sư, ngay cả nhà sư Thiếu Lâm Tự, trong truyện Kim Dung hầu hết là những kẻ tham, sân, si lòng đầy tà niệm, dục vọng. Và Kim Dung chính là kẻ đã xuyên tạc thành công nhất đạo Phật thông qua ngòi bút đề cao bạo lực của mình. Đọc truyện chưởng, nhất là độc giả phương Tây, còn ai nghĩ rằng đạo Phật là một đạo của hòa bình và lòng nhân bản?
  Sau truyện feulleiton (truyện giải trí đăng nhiều kỳ trên nhật báo)  kỹ nghệ điện ảnh đã nâng tinh thần phỉ báng đạo Phật lên tầm rộng lớn hơn, phủ khắp toàn cầu. Phim Hongkong đã làm khá tốt chuyện này. Tuy thế nói về phim ảnh thì không ai hơn được người Mỹ. Nói về bạo lực, dùng lửa để dập lửa thì cũng không ai hơn người Mỹ. Và mang chất Mỹ nhất chính là các phim cao bồi Viễn Tây.

   Không lạ khi một tay làm phim trưởng thành từ Holywood lại copy, chắp vá hổ lốn các loại “classic” cao bồi và kungfu nhằm làm một phim giải trí. Chưa được hân hạnh xem phim này, nhưng lướt qua trailer trên Youtube và qua các thông tin được tiết lộ có chủ đích cho báo giới thời gian qua cũng dễ nhận biết đây là một phim thuần giải trí có thể tóm tắt qua các từ: ái-hận-tình-thù, dục, bạo lực, tham-sân-si. Chuyện không có gì đáng nói nếu tác giả và nhà sản xuất cứ làm phim, cứ tiếp thị, cứ thu hồi vốn đầu tư… Đàng này họ lại lôi kéo chữ Phật vào làm tựa đề cho một bộ phim-câu chuyện chẳng có gì dính líu đến Phật pháp, thậm chí còn phỉ báng đạo Phật nếu các vai nhà sư trong phim sử dụng võ lực, bạo lực để đạt cái mình muốn.


Vai cao tăng trong phim Lửa Phật

Tác giả và nhà sản xuất hứa hẹn sẽ có nhiều pha bạo lực thế này
  
  Tác giả và nhà sản xuất của phim “Lửa Phật” sắp phát hành luôn miệng khẳng định đây không phải là phim về đề tài tôn giáo, luôn miệng mời gọi khán giả vào rạp xem phim đó mà họ hứa hẹn là đầy rẫy những cảnh đấm đá, những màn cụp lạc hấp dẫn. Vậy thì tại sao các vị lại dùng một danh từ thiêng liêng của tôn giáo chúng tôi làm tựa đề cho một bộ phim giải trí có nội dung hoàn toàn ngược lại với tinh thần Phật giáo?

  Chữ Phật (Buddha) là một danh hiệu từ thời cổ đại ở lục địa India dùng để tôn xưng một người tu tập đạt tới bậc Giác Ngộ. Về mặt lịch sử, cho đến thời Asoka, ông đã dựng 3 trụ đá xác nhận có ba vị được gọi là Phật (Buddha), Đức Phật Sakya Muni là một trong ba vị ấy. Và suốt 2500 năm sau ngày Phật Sakya nhập Niết bàn thì không một vị nào trên trái đất này được công nhận chứng quả vị Phật nữa. Như vậy quả vị Phật không phải dễ đạt đến cho chúng sinh trên trái đất.

     Đạo Phật của chúng tôi là một tôn giáo của những người noi theo gương và lời dạy bảo của các vị Phật tu tập theo hạnh “KHÔNG BẠO LỰC”, với ước nguyện một thế giới hòa bình.
     Không phải chỉ tìm đọc ba mứa, dăm bữa nửa ngày một vài cuốn sách nói về đạo Phật thì có thể vỗ ngực tự xưng mình “hiểu” đạo Phật. Càng lầm lạc hơn khi nhìn đạo Phật qua lăng kính truyện chưởng Kim Dung ngập tràn sân si bạo lực. Xin hãy học hỏi Asoka về chuyện từ bỏ bạo lực khi thấm nhuần Phật pháp.
 
   Xin quý vị hãy trưng ra một ví dụ thực tế chứng minh ít nhất là một cao tăng lại có võ công thượng thừa và còn đi đánh lộn. Nếu không chứng minh được thì rõ ràng là quý vị đã phỉ báng chữ Phật của tôn giáo chúng tôi.

  Các vị có thể dùng lửa gì cũng được để tạo ra một đám cháy thiêu hủy tất cả những gì còn sót lại, thiêu hủy những gì mà đáng ra giới trẻ nên học hỏi để có thể sống một đời sống nhân hậu, nhân ái, khoan dung và bất bạo động. Cổ súy tham sân si, ái hận tình thù là quyền của quý vị, nhưng nhớ là đừng đùa với “LỬA”.
  
    Xin hãy “chừa ra” chữ Phật thiêng liêng của những người theo Phật giáo chúng tôi, đừng dùng chữ ấy vào những tựa đề câu khách kể cả khi anh làm phim nhảm nhí giải trí rẻ tiền. Tôn thờ chữ Phật với tinh thần bất bạo động, hòa bình là quyền của chúng tôi và chúng tôi có quyền bảo vệ niềm tin tôn giáo của mình. Không cần bạo lực như tín đồ Hồi giáo hay Hindu kéo đến đốt phá rạp hát chiếu phim phỉ báng tôn giáo của họ, sức mạnh mềm “bất bạo động” của Phật giáo vẫn có thể chiến thắng bất cứ thế lực nào! Có khi nào các vị tưởng tượng ra cảnh các sản phẩm của quý vị bị toàn bộ Phật tử Việt Nam tẩy chay?
  
  Bạo lực chỉ kêu gọi thêm bạo lực và điều đó không liên quan gì đến chữ Phật! Cửa Phật, nhà Phật thì không bao giờ có bạo lực, võ công.
  Luật Nhân-Quả, gieo Nghiệp gì thì nhận Quả tương ứng mà thôi!
 

  Nepal, quê hương Đức Phật Sakya
  17/03/2013

  Nguyễn Phú

PS: Có lẽ các vị nên học hỏi chữ nhẫn của một tổ chức tự nhận là đại diện cho Phật giáo Việt Nam hiện tại, có cả một đại gia làm phát ngôn nhân mà suốt thời gian qua xảy ra rất nhiều chuyện ảnh hưởng tới thanh danh của Phật giáo Việt Nam thế nhưng họ lại không bao giờ tỏ rõ thái độ của mình với những sự xúc phạm tôn giáo, lạm dụng ngôn từ. (Không biết là nên vui hay nên buồn chỗ này!)

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

VÀI LỜI LĂN TĂN

 Chào các bạn,
Mình về tới Kathmandu tối hôm qua. Lướt qua web thấy trong mấy ngày rồi xảy ra nhiều chuyện nóng bỏng. Rất mừng thấy TTXVH bất tử!
  Rất ngạc nhiên cho mình là bài Rẻ Tiền được nhiều người quan tâm, chia sẻ.
 Có mấy điểm sau:
  • Về quan điểm cho rằng mình công kích cá nhân: dĩ nhiên rồi. Blog của mình và của blogger ấy là của cá nhân chứ có phải của tập thể/tổ chức nào đâu, nên chuyện phản hồi, không đồng quan điểm là chuyện cá nhân. Blogger đã post bài của mình lên cho thiên hạ đọc thì phải chấp nhận chuyện phê phán bản thân mình thôi. Nếu không viết sai và có trách nhiệm với bài viết của mình thì có gì mà phải ngụy biện, phải cao ngạo rằng không nói chuyện với kẻ công kích cá nhân. Thế anh ta không phải cá nhân thì là tập thể nào?
  • Về quan điểm của mình trong bài Rẻ tiền: đầu tiên mình không đồng tình ở cách đặt tựa bài. Rẻ tiền là ở chỗ ấy. Thứ hai, tác giả đã vô cùng ẩu tả, không tìm hiểu thấu đáo đã vội vàng chém gió trong khi thông tin thì đầy rẫy và dễ dàng tìm ra. Đấy là thói vô trách nhiệm.  
  • Về vấn đề comment: mỗi nhà mỗi cảnh. Mình ôm đồm nhiều việc quá chỉ tiếc một ngày không có đến 48 giờ đồng hồ nên không đủ sức để Re-Comment, mong các bạn thông cảm. Đồng thời cũng sợ các bạn dư luận viên vào xả rác hay hack cái chòi lá này của mình nên tắt chức năng comment đi cho nó lành (mình đã nói rõ điều này ở những bài đầu của blog này). Các bạn nào muốn gửi ý kiến xin gửi đến địa chỉ email của mình, nếu thích hợp mình sẽ cập nhật vào bài tương ứng. Trân trọng.
  • Về TỰ TÔN DÂN TỘC. Mình chỉ tiếc là chuyến đi khảo sát của mình không thể dời lại- vì mấy ngày đó là lễ hội lớn nhất trong năm của Hindu: Mahashivaratri- để mình có thể làm việc cần làm. Hôm nay mình đã gửi thư đến Đại sứ Thái Lan tại Nepal yêu cầu Thái Lan và báo Bangkok Post phải đính chính thông tin xúc phạm đến tín ngưỡng và chủ quyền quốc gia của Việt Nam, đồng thời phải xin lỗi Phật tử Việt Nam. Mình sẽ cập nhật việc này trong vài ngày tới. Điều đáng buồn là người Việt ta ngày nay bị thế giới coi thường đến mức người Thái mà cũng đòi nhà cầm quyền Thái hủy một bức tượng mà họ cả quyết là ở Việt Nam. Không thấy một ai lên tiếng về việc xâm phạm chủ quyền quốc gia này. Quan điểm của mình là : kể cả bức tượng đó tồn tại ở Việt Nam thì người Thái làm gì có quyền đòi nhà cầm quyền của họ hủy bức tượng trong lãnh thổ Việt Nam? Về mặt tín ngưỡng, Thái Lan đâu có phải là lãnh đạo của Phật giáo thế giới? Cả cộng đồng mạng Việt nhặng xị lên, đấu đá lẫn nhau, tự điều tra nội bộ, tự thanh minh... trong khi kẻ xúc phạm là báo Bangkok Post thì ngồi đó cười ruồi. Vì đâu mà đến nông nỗi này?
  • Vị blogger nọ đòi cấm không cho mang bức tượng đó về Việt Nam. Chi tiết thì mình sẽ nói trong bài "Thấy vậy mà không phải vậy!" sau. Xin vắn tắt ở đây: giọng điệu cực đoan này giống hệt cung cách quản lý của cộng sản. Cái gì không quản được thì cấm. Cái gì không hiểu nổi thì đốt sạch, xóa sạch không cần lý lẽ. Dân chủ giả cầy!

Xin post ở đây một số hình như là món khai vị cho bài "Thấy vậy mà không phải vậy" sẽ post trong 1-2 ngày tới. Loạt hình này copy từ trang Kiến thức.Tín ngưỡng Việt Nam đấy, đi mà cấm!

ĐÂY LÀ BẢO VẬT QUỐC GIA: THẠP ĐỒNG ĐÀO THỊNH








 
 






Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

VỀ VỚI NGƯỜI THARU

NGÀY 1: dự trù mãi đến khi kết thúc chuyến đi mới post bài vì phải đi vào các làng Tharu hẻo lánh, không có net. Nhưng đi được 400km đến Butwal thì hết xăng nên phải ở lại đây một đêm. May KS có net nên tranh thủ xài ké post vài hình đã chụp bữa nay.

Kế hoạch là khởi hành sớm nhưng hôm nay các đảng chính trị người Madeshi bandha nên mãi tới 8 giờ mới xuất phát được. Kinh nghiệm ở các nước Nam Á là khi có bandha các bạn đừng nên ra đường sớm dù bọn tổ chức nào cũng nói là cho phép xe của phóng viên, khách du lịch nước ngoài, cấp cứu lưu thông. Đừng tin! Sáng nay một chiếc xe của đài truyền hình đi làm tin buổi sáng đã bị tấn công. Vì thế mà dù xe mình có dán "bùa" PRESS phía trước mình vẫn phải chờ vài tiếng đồng hồ cho mấy cái đầu của bọn tiểu yêu nguội bớt.

Chúa nhật này (10/03/2013) là đại lễ hội quan trọng nhất trong năm của Shaivism (một tông của Hindu giáo tôn thờ thần Shiva; tông còn lại là Vaishnavism thờ thần Vishnu). Từ mấy ngày nay, các SADHU (ông đạo Hindu) từ khắp nơi ở Nepal và India lũ lượt kéo về Pashupatinath-ngôi đền thiêng nhất của Hindu ở Kathmandu để tham dự lễ hội này.

Mình thích cái con gấu bông xinh xắn sau lưng tay cua-rơ này!

Mùa này là mùa đẹp để du lịch ở Nepal và Bắc India. Trời mát và không còn sương mù che phủ cả ngày như 2 tháng trước. Đôi vợ chồng người Pháp này đang đạp xe từ Kathmandu về Lumbini

Cơ ngơi của Binod Kumar Chaudary, tỷ phú đầu tiên của Nepal vừa mới lọt vào danh sách của Forbes năm nay. Chaudary là họ phổ thông của người Tharu. Cụm tượng hoành tráng bằng đồng này mô tả tích thần Krishna đánh xe chở Arjun ra trận, một tích trong sử thi Mahabharata của India. Tộc người nghèo nhất Nepal sản sinh ra người giàu nhất Nepal... hi hi có khối chuyện để chém gió đây...


Quá trưa thì đến quê Mẹ của Đức Phật Sakya , vùng Devdhaha. Như thông lệ mình đến chiêm bái và kinh hành vòng quanh bảo tháp Ramagrama, nơi lưu giữ 1/8 xá lợi nguyên thủy của Đức Phật Sakya suốt 2.500 năm qua. Xin mời xem thêm link này: http://nguyenphunepal.blogspot.com/2013/01/nhung-bai-viet-cu-co-lien-quan-en-ho.html


Gần tháp Ramagrama là một làng của người Tharu


Các bồn chứa bằng đất này dùng để tích trữ lương thực, một đặc trưng của người Tharu. Lúa gạo trữ bằng các bồn này có thể lưu giữ nhiều năm, không sợ mối mọt chuột bọ.

Trung nông Tharu đây: nhà gạch, trâu, bò (mấy cái cọc là để cột trâu bò), xe máy cày, lẫm lúa, vườn rau...

Nhà nào càng nhiều bồn thì càng giàu

Đến tận 4 giờ chiều Butwal-thành phố nhộn nhịp nhất trên trục đường Đông Tây Nepal vẫn hoang vắng xe cộ. Bandha mà, không ai dám chạy xe có động cơ ra đường . Trừ mình hi hi... đi lại trong ngày bandha có cái sướng là đường vắng hoe, tha hồ chạy hết tốc độ cho đến khi... hết xăng....  Thôi , dừng đây, sáng mai đi tiếp 150km nữa tới Dang. Chào các bạn, hẹn sẽ cập nhật tiếp khi có điều kiện....


Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

ĐĂNG KÝ TẠM VẮNG


 

 Các bạn mến,

Khuya nay mình sẽ đi về vùng Dang miền Tây Nepal, 05 ngày; làm một chuyến điền dã về người Tharu.
Nhà sẽ tạm đóng cửa trong mấy ngày đó, không cập nhật.
Xin đăng ký tạm vắng vậy! Hi hi
Mong sẽ có thông tin hữu ích sau chuyến đi để hầu các bạn.
Bật mí xíu xíu: vào thời cổ đại ở Vương quốc Sakya thuộc dòng họ Đức Phật, tộc họ Sakya là tầng lớp cai trị, còn dân chúng chính là người Tharu ngày nay. Đây là một sử liệu quan trọng mà các nhà nghiên cứu hầu như quên bẵng không đề cập đến khi nghiên cứu về vương quốc Sakya cổ đại. Lẽ nào một nước chỉ có vua và quý tộc, không có dân?

 Mong sớm gặp lại các bạn!

 Nguyễn Phú

   Vẻ Đẹp Tharu

Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

RẺ TIỀN!



Bức tượng này là tượng Adi Buddha (một trong năm vị Phật tổ Pancha Buddha) xuất xứ đầu tiên từ Mật tông Nepal Vajrayana (Kim cương thừa), Phật này còn có tên khác là Vajradhara (Vị Phật cầm Kim cương chùy ; Vajra: Kim cương chùy là một pháp khí để phá tan vô minh trong mật tông). Sanskrit gọi vị Phật này là Vajrasattva. Tượng Vajrasattva  có một tướng “HIỂN” (trưng bày nơi công cộng) ngồi trong tư thế hoa sen, hai tay cầm pháp khí Vajra bắt chéo trước ngực. Còn hình tượng ôm trong lòng một hình tướng nữ nhân là tướng “MẬT”. (Hình tướng nữ là Prajna, bạn nào thắc mắc muốn biết sâu hơn ý nghĩa thì chịu khó tự tìm trên mạng, như thế sẽ thấu đáo và nhớ lâu hơn).

  Hình tượng Vajrasattva “MẬT” này chỉ dành cho những tu sĩ ở cấp bậc cao nhất trong Mật tông (cả Tây Tạng và Nepal) trong khi ẩn tu ở nơi thâm sơn cùng cốc thực hành những bí pháp tu luyện thượng thừa vì đây là vị Phật ở cấp độ “TỐI CAO VỀ GIÁC NGỘ” ( ULTIMATE STATE OF ENLIGHTENMENT). Chỉ thờ phụng trong những căn phòng kín đáo, bí mật. Không thờ ở nơi công cộng!
    Tu tập cũng có cấp bậc như việc học ở trường vậy. Không thể cho một em mới học vỡ lòng xem Truyện Kiều và bắt nó hiểu ý nghĩa Nguyễn Du gửi gắm trong đó. Cũng như một người mới tu thì nhìn vào pho tượng này chỉ thấy kích dâm mà tẩu hỏa nhập ma không thể sử dụng sức mạnh tinh thần, năng lượng vô cùng tận của bức tượng này để thăng hoa trên đường tu tập. 


Lướt qua cái tin nhảm của BBC về vụ này mình không buồn phản ứng, thế nhưng hôm qua thấy TTXVH điểm cái tít của một “Hot Boy” của giới Blog Việt thì mình quả thật thất vọng về blogger này. Rẻ tiền!

  Sự việc bắt đầu hết sức cải bắp từ “tin xe cán chó” (Local News) của Bangkok Post do các “Phóng viên mạng” (Online Reporters) thuật lại vài lời bình nhảm nhí từ Facebook Thái. Thế rồi BBC lại tung tin này lên. Cũng chẳng  ai để ý cho đến khi TTXVH điểm tin.

   Bangkok Post đưa tít “Hình tượng Phật Việt Nam dấy lên sự giận dữ” (Vietnamese Buddha image draws ire). Tuy có thòng một câu về xuất xứ của tượng này nhưng vẫn lộ liễu ám chỉ và công kích một nhánh của Phật giáo Đại thừa Việt Nam. Tác giả bài này và các công dân mạng (netizens) của anh ta chắc là thuộc Phật giáo Tiểu thừa cực đoan Thái Lan nên mới cố tình và cố chấp như thế, không chịu hiểu rằng đó là một tượng của Mật tông Nepal và Mật tông Tây Tạng. Cố tình lờ đi sự thật là hàng triệu du khách mỗi năm du lịch đến Nepal và Tibet thấy và biết pho tượng này ở đây; và không ít người mua nó đem về nhà (ở khắp nơi trên thế giới) như một món quà lưu niệm về tín ngưỡng ở Himalaya.

  Đến BBC, khi đưa lại bài này cũng thận trọng dùng cái tít “Phật tử tức giận vì tượng Phật 'ở VN'. Phần cuối bài này có mở rộng ra, chi tiết hơn một chút về tượng này.

  Thế mà Hot Boy của Blogger Việt lại câu view, giật tít vô cùng dơ dáy “ Tượng Phật làm tình”. Cái tít của hot boy này không thua gì tít của Vietnam Net “Nữ nhân viên dùng miệng kích dục cho khách”


   Điều đáng nói là hot boy này là một trí thức lại có chuyên môn về tin học, lại đang sống ở Mỹ-một xứ không đói thông tin cũng như dân chủ và tri thức. Chỉ cần a bờ cờ về tin học vào Google search là có thể ra hàng triệu kết quả cho bức tượng này để biết xuất xứ và ý nghĩa của nó, để biết đây có phải là “tượng làm tình” hay không. Rồi khi không từ bức tượng này, hot boy lại móc qua chuyện tạp chí Playboy, chuyện nhà sư uống bia, chuyện ĐVH hôn sư, chuyện văn hóa xuống cấp… để kết rằng “tín ngưỡng đạo Phật của xứ ta đang bị biến đổi một cách méo mó, một tín hiệu chẳng tốt lành”.
  Không biết hot boy có biết rằng chính Đức Phật đã từng khẳng định rằng: có đến 84.000 pháp môn để thành tựu quả Phật?
  Không biết hot boy có biết đa số Phật tử Thái theo Tiểu thừa (Theravada) còn đa số Phật tử Việt Nam theo Đại thừa (Mahayana)? Trong Đại thừa ngoài hàng ngàn “tông” ở khắp nơi còn có Mật tông Nepal (Vajrayana) và Mật tông Tây Tạng (Tantrayana).
  Là một nhà khoa học, hot boy phải biết là không thể dùng hiện tượng để đánh giá bản chất. Không thể vì một hay một số người Việt theo Mật tông Tây Tạng do sở thích cá nhân và tự do tín ngưỡng của họ mà anh có thể kết luận rằng tín ngưỡng đạo Phật Việt Nam bị biến đổi méo mó. Ai nói rằng tín ngưỡng Mật tông Tây Tạng là méo mó, không tốt lành? Nói như anh, vậy Dalai Lama cũng thờ-lạy bức tượng này thì ông cũng méo mó và không tốt lành sao?

  Không khó hiểu khi vài người cực đoan và thiểu năng trí tuệ ở Thái theo Tiểu Thừa lại bức xúc về một bức tượng như thế. Tác giả online nọ đã không công bố vị trí và hoàn cảnh trưng bày của pho tượng, như thế là không trung thực, xuyên tạc, bôi bác (Phật tử Việt Nam có thể tố lại, kiện lại Bangkok Post vì chuyện này). Ai cấm một Phật tử Việt Nam theo Mật tông Tây Tạng thờ bức tượng này? Người Thái có quyền gì mà xía mũi vào chuyện tín ngưỡng của người Việt? Chúng tôi đâu có mang bức tượng này vào đất Thái của các anh bắt các anh thờ-lạy nó đâu? Ngay cả bài chính gốc này trên Bangkok Post (http://www.bangkokpost.com/news/local/338123/vietnamese-buddha-image-draws-anger) cũng chỉ cho xuất hiện 9 comments đã được “xét duyệt” (mình đã vào đó comment hơn 10 lần với 10 tên khác nhau mà bọn quản trị không cho đăng). Trong 9 comments thì có đến 6 không đồng quan điểm với bài báo, 2 trung lập và duy nhất một cho rằng “Nasty”.
  Trên trang Facebook của BBC tình hình còn rõ ràng hơn, có đến 595 comments cho đến giờ này. Hầu hết comments đều chỉ ra rằng bài báo này thiểu năng trí tuệ, và bức tượng này thuộc về Mật tông Tây Tạng.
  Trên blog của hot boy, tối hôm qua có gần 50 phản hồi, hầu hết hùa theo giọng kích động rẻ tiền của hot boy không nghiên cứu thấu đáo đã vội vàng kết án bức tượng và người sở hữu nó như là “những con chiên lầm lạc” của Phật giáo, xa hơn còn công kích Phật giáo Việt Nam (xin nhớ cho rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại không phải là toàn bộ Phật giáo Việt Nam, cũng như Đảng Cộng sản Việt Nam không bao gồm toàn bộ con dân nước Việt). Cho đến giờ thì có đến 95 phản hồi, tuy có người đã phân tích thấu đáo nhưng vẫn có kẻ cố tình vô minh cho là bức tượng cổ súy tình dục, bôi bác Phật giáo như giọng của hot boy.  

  Mình nghĩ không cần thiết phải dẫn chứng hình ảnh và thông tin về bức tượng này, Google đã có đầy cả ra, đến hàng triệu kết quả. Chỉ xin chú thích ngắn gọn thế này:

   Bức tượng này là tượng Adi Buddha (một trong năm vị Phật tổ Pancha Buddha) xuất xứ đầu tiên từ Mật tông Nepal Vajrayana (Kim cương thừa), Phật này còn có tên khác là Vajradhara (Vị Phật cầm Kim cương chùy ; Vajra: Kim cương chùy là một pháp khí để phá tan vô minh trong mật tông). Sanskrit gọi vị Phật này là Vajrasattva. Tượng Vajrasattva  có một tướng “HIỂN” (hiển lộ, trưng bày nơi công cộng) ngồi trong tư thế hoa sen, hai tay cầm pháp khí Vajra bắt chéo trước ngực. 

Hình tướng "HIỂN" của Vajrasattva

Còn hình tượng ôm trong lòng một hình tướng nữ nhân là tướng “MẬT”. Hình tướng nữ là Prajna, bạn nào thắc mắc muốn biết sâu hơn ý nghĩa thì chịu khó tự tìm trên mạng, như thế sẽ thấu đáo và nhớ lâu hơn. Ngắn gọn thế này: hình tướng nữ nhân -Prajna chính là biến hóa của các pháp khí Kim Cương Chùy-Vajra và Chuông Kim Cương và người thực hành bí pháp này đạt tới cảnh giới hòa nhập làm một với Đại Vũ Trụ - tức Giác Ngộ.

  Hình tượng Vajrasattva “MẬT” này chỉ dành cho những tu sĩ ở cấp bậc cao nhất trong Mật tông (cả Tây Tạng và Nepal) trong khi ẩn tu ở nơi thâm sơn cùng cốc thực hành những bí pháp tu luyện thượng thừa vì đây là vị Phật ở cấp độ “TỐI CAO VỀ GIÁC NGỘ” ( ULTIMATE STATE OF ENLIGHTENMENT). Chỉ thờ phụng trong những căn phòng kín đáo, bí mật. Không thờ ở nơi công cộng!
  Nhưng như thế không có nghĩa là một người sưu tập không có quyền trưng bày pho tượng mà anh ta sở hữu. Trưng bày như là một tác phẩm nghệ thuật như các pho tượng khác, như các bảo tàng trưng bày. Xin bật mí cho hot boy rằng ở Mỹ có rất nhiều bảo tàng về văn hóa Tibet, Himalaya, Nepal trưng bày bức tượng này.
   Tu tập cũng có cấp bậc như việc học ở trường vậy. Không thể cho một em mới học vỡ lòng xem Truyện Kiều và bắt nó hiểu ý nghĩa Nguyễn Du gửi gắm trong đó. Cũng như một người mới tu thì nhìn vào pho tượng này chỉ thấy kích dâm mà tẩu hỏa nhập ma không thể sử dụng sức mạnh tinh thần, năng lượng vô cùng tận của bức tượng này để thăng hoa trên đường tu tập.  

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013

CẬP NHẬT: NHÀ SƯ TÂY TẠNG TỰ THIÊU Ở KATHMANDU




      Nhà sư Tây Tạng tự thiêu tại Bảo tháp Boudhanath lúc 8 giờ sáng hôm qua đã mất chỉ vài giờ sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu do bỏng đến 96%.

   
     Nhà sư tuổi khoảng 20 đã được nhận diện là Thundup Dopchen đi từ Ấn Độ vào Nepal bằng đường bộ. Ông là người Tây Tạng thứ 100 đã tự thiêu để phản đối Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng vào đúng ngày đánh dấu 100 năm Tuyên Bố Độc Lập của Tây Tạng bởi Dalai Lama thứ 13 (13/02/1913).

  Theo lời các nhân chứng, ông đã vào nhà hàng Golden Eye  trong khu vực tháp Boudha mang theo một túi xách trong đó cất giấu một bình xăng. Sau đó ông vào phòng vệ sinh của nhà hàng. Tại đây, ông tưới hết cả can xăng lên quần áo và thân thể rồi bước ra khỏi nhà hàng. Đứng đối diện với chính diện bảo tháp ông cầu nguyện rồi bật lửa tự thiêu. Lửa bùng lên ông giang thẳng hai tay ra vừa chạy vòng theo bảo tháp vừa hô các khẩu hiệu chống Trung Cộng. Chỉ chạy được khoảng 50m ông ngã xuống, lửa vẫn còn phừng phừng bao phủ thân ông.

  Kể từ khi  đại sứ Trung cộng mới nhậm chức vào năm 2011, ở Boudha luôn luôn có một trung đội cảnh sát dã chiến túc trực để dập tắt bất kỳ cuộc nhóm họp biểu tình nào của người Tây Tạng. Khi nhà sư Dopchen tự thiêu, cảnh sát dã chiến đã chạy đến rất nhanh, nhưng vì bất ngờ và không hề chuẩn bị để ứng phó với tình huống nầy nên chỉ lúng túng chạy quanh không biết xử lý ra sao. Cuối cùng họ dùng bất kỳ thứ vải , áo nào trong tầm tay để quật tắt lửa trên người Sư Dopchen. Sự ứng phó vụng về này quá muộn để có thể cứu tính mạng Sư Dopchen.
Ảnh: Reuter

  Hôm nay, cảnh sát dã chiến đứng dầy đặc khu vực Boudha. Một số mang theo sẵn mền khổ lớn và bình chữa lửa. Sau sự kiện này, chắc chắn người Tây Tạng ở Nepal sẽ càng bị quản lý chặt chẽ hơn.

  Xin nghiêng mình kính cẩn vái lạy Ngài Thundup Dopchen, một vị Bồ Tát đã hiến dâng thân mình cho Đạo Pháp và Dân Tộc!
   Kathmandu 14/02/2013
    Nguyễn Phú

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

DUYÊN

Duyên Sakya của mình
 Học được cổ ngữ Newari là ước mơ không chỉ của mình mà của cả nhiều nhà nghiên cứu Tây Phương. Vì học được tiếng Newari có thể liên thông qua cổ ngữ Brahmi thời Asoka, liên thông qua Sanskrit, và cả văn bản viết tay của Tibet. Ngay cả trong cộng đồng Sakya và Newar ở Kathmandu Valley, số người sử dụng tiếng Newari ngày càng ít dần số người biết đọc viết Newari và Ranjana càng hiếm, nhất là các thế hệ trẻ. Suốt bao nhiêu năm qua mình từng tìm "thầy" để học, nhưng cơ duyên chưa đến, đành phải kiên nhẫn chờ đợi.

 Thế rồi DUYÊN đến bất ngờ. Tháng rồi mình được một người nhận lời dạy tiếng Newari. Thân nhau bao nhiêu năm, nhưng đến nay ba cổ mới đồng ý để cô ấy dạy cổ ngữ Newari cho mình.

 


Thầy Hoàn Phú, Thầy Bổn sư của mình ở Trà Ôn-Vĩnh Long, chỉ dạy cho mình có một câu mật tông duy nhất:  "MỌI SỰ TÙY DUYÊN".
Thần chú "Om Mani Padme Hum" viết bằng mẫu tự Ranjana của người Newar
  Mình đến Nepal, Kathmandu Valley là Duyên và ở lại đây cũng là Duyên.
 Suốt mấy năm qua nghiên cứu về họ Sakya cũng là Duyên.

 Họ Sakya ở Nepal thuộc về nhóm chủng tộc Newar, là nhóm chủng tộc cầm quyền liên tục từ xưa đến thế kỷ 18 ở Kathmandu Valley và là nhóm chủng tộc có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến lịch sử, văn hóa, phong tục, kiến trúc, nghệ thuật cũng như tâm linh của toàn Nepal, kể cả Tibet.
  Người Newar có ngôn ngữ riêng là tiếng Newari (Nepal Bhasa) bắt nguồn trực tiếp từ tiếng Brahmi cổ đại (ngôn ngữ Ashoka Đại Đế sử dụng trên các bản khác và trụ đá khắp Ấn Độ cổ đại). Tiếng Newari cũng cổ không kém gì Sanskrit. Cổ ngữ Newar có chữ viết riêng, gần giống với mẫu tự Devanagari như tiếng Sanskrit hay Hindi . Ngoài ra, cổ ngữ Newari còn có một bộ chữ viết đặc biệt gọi là Ranjana (Ranjana Lippi, Eng: Ranjana script). Đây là dạng chữ thư pháp dùng để viết các câu bùa, chú (mantra) của Mật Tông Nepal (Vajrayana- Kim Cương Thừa của người Newar khác hẳn và độc lập với Kim Cương Thừa Tây Tạng) và Mật Tông Tây Tạng. Bộ mẫu tự Ranjana này đã được UNESCO và UN công nhận.

Mẫu tự Ranjana

  Cho đến nay, sau hơn 7 năm nghiên cứu, mình chỉ chạm đến phần vỏ ngoài của lịch sử và văn hóa Newar cũng như lịch sử họ Sakya thông qua chủ yếu là nguồn tiếng Anh (bản dịch từ tiếng Newari, tiếng Nepali và các công trình nghiên cứu của các học giả Âu Mỹ). Muốn đi xa hơn, đến tận cùng của tài liệu gốc phải biết tiếng Newari để tham khảo tàng thư khổng lồ đã được thu thập lại trong một thư khố-bảo tàng các tài liệu Newar cổ có niên đại lên đến cả nghìn năm tuổi.
  Học được cổ ngữ Newari là ước mơ không chỉ của mình mà của cả nhiều nhà nghiên cứu Tây Phương. Vì học được tiếng Newari có thể liên thông qua cổ ngữ Brahmi thời Asoka, liên thông qua Sanskrit, và cả văn bản viết tay của Tibet. Ngay cả trong cộng đồng Sakya và Newar ở Kathmandu Valley, số người sử dụng tiếng Newari ngày càng ít dần số người biết đọc viết Newari và Ranjana càng hiếm, nhất là các thế hệ trẻ. Suốt bao nhiêu năm qua mình từng tìm "thầy" để học, nhưng cơ duyên chưa đến, đành phải kiên nhẫn chờ đợi.


 Thế rồi DUYÊN đến bất ngờ. Tháng rồi mình được một người nhận lời dạy tiếng Newari. Thân nhau bao nhiêu năm, nhưng đến nay ba cổ mới đồng ý để cô ấy dạy cổ ngữ Newari cho mình. Cô ấy họ Sakya, là sinh viên năm cuối khoa Công Nghệ Sinh học, biết năm thứ tiếng (Anh, Đức, Ý, Nhật, Hindi) ngoài tiếng mẹ đẻ là Newari và Nepali.
  Nguyên nhân kể từ tháng rồi mình ít viết, chỉ đưa tin từ các Blog khác với bình luận vì hiện đang tập trung học tiếng Newari. Mình sẽ cố gắng tranh thủ viết và mong sẽ mang đến thêm cho các bạn những thông tin quý giá từ nguồn Newari.
   TẤT CẢ LÀ DUYÊN!