Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân Vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

NEPAL STYLE

Giàu có và sử dụng tài sản của mình như thế mới xứng đáng là Đại Gia, mới đáng kính phục. Kaiser SJB Rana, theo mình là nhân vật vĩ đại nhất của tộc họ Rana Nepal và là “Player” đáng ngưỡng mộ nhất của Nepal.

   Mình nghĩ mãi không ra cái tựa đề cho bài này. Chủ đề là kể về phong cách “chơi” (tiêu xài-spend, sưu tập-collect, lối sống- style…) của những nhân vật nổi tiếng người Nepal, nổi tiếng ở đẳng cấp thế giới. Mới đầu định lấy tựa “Dân chơi Nepal”, nhưng thấy phàm phu, có mùi giang hồ, và “hôi sữa” của mấy nhóc thiếu gia ngày nay; vì các nhân vật đề cập trong bài này toàn là giới thượng lưu, tinh hoa (elite) của Nepal xưa. “Chơi kiểu Nepal” càng không ổn vì quá thô tục. May, cái video clip làm mưa làm gió khắp thế giới của anh chàng ca sĩ Hàn Quốc Psy đã giúp mình một cái tựa thích hợp “Nepal Style”.
Mẫu Roll Royce Phantome III mà ông Kaiser SJB Rana đưa về Kathmandu Nepal vào thập niên 1930

    Năm 1973, cái xe Mercedes đời mới nhất của ông hoàng Vijay SJB Rana về đến Kathmandu, Nepal. Ngay lập tức nó trở thành “hot girl” được mọi người trầm trồ khen ngợi và thu hút mọi sự chú ý mỗi khi xuất hiện. Cũng thời điểm ấy, một “ông hoàng” xe hơi lặng lẽ rời khỏi Nepal. Ông Vijay luôn tiếc nuối khi kể về sự kiện này. “Nếu biết họ bán nó đi, thì dù có bán cả gia sản ông cũng sẽ làm để giữ nó lại ở Nepal. Chiếc xe ấy là một phần lịch sử của Nepal, một vật chứng và là niềm hãnh diện cho đất nước trên núi này.”
  “Nó” là chiếc Roll Royce Phantom III nổi tiếng.
  Chủ nhân của chiếc Roll Royce ấy là ông Kaiser Shamsher JB Rana, chú của ông hoàng Vijay.
   Wikipedia chỉ ghi chú mấy dòng ngắn ngủi như thế này về ông Kaiser SJB Rana: Field Marshal H.H Sir Kaiser Shamsher Jang Bahadur Rana, sinh ngày 08/01/1892 mất ngày 07/06/1964. Ông là con thứ ba của His Highness Maharaja Sir Chandra SJB Rana – Thủ tướng thứ năm triều đại Rana. Kaiser đã từng làm đại sứ Nepal ở  triều đình Anh Quốc (1947–1948), Bộ trưởng Quốc phòng của Nepal (1951–1955) và Bộ trưởng Tài chính Nepal (1952–1953).
Kaiser SJB Rana
   
  Ông Vijay kể cho tôi nghe với giọng ngưỡng mộ về người chú đậm đặc chất quý tộc này. Từ nhỏ, Kaiser đã là một cậu bé thông minh, ham học hỏi, được cha là Thủ tướng Chandra cưng nhất trong số các con trai và thường dẫn theo trong các chuyến đi nước ngoài. Sống trong môi trường sùng bái người Anh của tộc họ Rana, lại sớm tiếp xúc với văn hóa Anh quốc nên tự nhiên Kaiser cũng sùng bái văn hóa Anh. Năm Kaiser 16 tuổi, ông được gửi sang học ở Anh. Thú đam mê suốt những năm tuổi trẻ sống ở Anh và Cựu lục địa của chàng trai Kaiser là :Sách và Xe hơi. Ngay lần đầu trông thấy một trong những chiếc Roll Royce đầu tiên lăn bánh trên đường phố London, Kaiser đã bị tiếng sét ái tình đánh trúng. Dùng qua hầu hết các hiệu xe trong thời trai trẻ ở châu Âu, cuối cùng Kaiser nhận ra rằng, mối tình đầu chính là mối tình vĩ đại nhất của mình.
  Trở về Nepal lúc 22 tuổi, hành trang của Kaiser là hơn 5,000 quyển sách đủ các thể loại, chủ đề mà anh sưu tập suốt mấy năm qua. Chiếc Roll Royce anh dùng ở London đành phải để lại bên đó không thể mang về Nepal vì … không có đường.
   Từ đồng bằng phía Bắc Ấn Độ, cho đến cuối thập kỷ 1930 muốn lên đến Kathmandu phải vượt qua dãi Terai cao hơn 3000m bằng đường mòn. Đấy là một lợi thế để Nepal thoát khỏi cuộc chinh phục của thực dân Anh vào giữa thế kỷ 19, nhưng cũng là rào cản cho việc phát triển của Kathmandu.      
  Tộc họ Rana Nepal không thiếu tiền, quá dư dả là khác vì là một tộc họ lấn át cả nhà vua họ Shah để độc quyền cai trị với danh nghĩa Thủ tướng truyền đời. Cha của Kaiser vào năm 1903 đã cho xây dựng Singha Durbar (Cung điện Sư tử) trải rộng trên diện tích 50ha. Cung điện này được ghi nhận là Cung-điện-rộng-lớn-nhất-và-xa-hoa-nhất châu Á, sau này vào thập niên 1970 lại trở thành Tòa nhà chính phủ rộng lớn nhất châu Á.
SINGHA DURBAR

Bên trong Singha Durbar



   Khi Kaiser trở về sau nhiều năm học tập ở Anh, ông Chandra đã cho xây dựng một cung điện hoành tráng cho đứa con trai yêu ở vị trí gần như đối diện với Cung điện Sư tử, ngay bên cạnh hoàng cung của vua Shah.
Phương tiện giao thông cho đến cuối những năm 1930 ở Kathmandu

  Cho đến khi đó, thủ đô Kathmandu của Nepal vẫn chưa có chiếc xe hơi nào. Quý tộc Nepal đi lại chủ yếu dùng ngựa hoặc xe ngựa, khi lễ lạt thì dùng voi. Đam mê xe hơi là một “Thú đau thương” (tựa một lời dịch soundtrack của bộ phim Godfather trước đây ở Saigon). Cái thú ấy khiến quý tộc Nepal (không chỉ một mình Kaiser) quyết tâm san bằng mọi chướng ngại. Đầu tiên là mở rộng các đường mòn vượt qua rặng Terai. Sau đó xe được nhập từ châu Âu về India rồi tập kết ở biên giới Nepal-India. Tại đây, các xe hơi được tháo bánh xe ra, ràng cột cẩn thận trên một hệ thống đòn khiêng bằng gỗ. Thế là lên đường vượt núi trên vai của phu khiêng kiệu hay lính.



  Chiếc xe đầu tiên lên đến Kathmandu vào cuối thập niên 1930 là chiếc Roll Royce của Thủ tướng Chandra. Vốn là chiếc xe mà Kaiser sử dụng ở London trước đây. “Tay chơi” Kaiser thì đã đặt hàng tại hãng Roll Royce một chiếc xe mới. Chính là chiếc Phantome III.
  Xe này nặng đến 3,5 tấn, phải dùng đến hơn 600 người thay phiên nhau khiêng suốt 1 tháng trời mới lên đến Kathmandu từ biên giới India.
  Có xe rồi, thế là Kaiser liền cho làm một con đường nhựa (con đường nhựa đầu tiên ở Nepal) dài khoảng 1,5km nối từ Cung điện Sư tử đến Cung điện Kaiser của mình. Cứ mỗi sáng, Kaiser cho tài xế lái chiếc Phantome chở mình vượt 1,5km đến Cung điện Sư tử để… uống café với ông Chandra; rồi lại lái về tư dinh. Mỗi khi có lễ lạt hoàng gia, Kaiser lại cho mượn chiếc Phantome làm phương tiện. 
Con đường nhựa đầu tiên ở Nepal nối liền hai Palace

  Sau cha con Kaiser, các hoàng thân khác cũng lục tục bắt chước cho …. khiêng xe lên Kathmandu. Rồi đến các đại sứ quán. Việc khiêng xe này kéo dài mãi cho đến thập niên 1950, khi Nepal hoàn thành việc xây dựng các con đường quốc lộ nối Kathmandu với biên giới với India mới chấm dứt.
   Khiêng xe lên núi chạy. Đúng là “Chơi xe kiểu Nepal”, không nơi nào có được.
  
   Kaiser SJB Rana mất năm 1964. Ông lập di chúc để lại Cung điện Kaiser của mình làm trụ sở Bộ Giáo Dục, đồng thời hiến tặng toàn bộ thư viện mà ông đã sưu tập suốt 60 năm làm thư viện công cộng. Thư viện có đến 50.000 cuốn sách, trong đó có những bản thảo viết tay cổ nhất và duy nhất của Nepal, những cuốn sách độc bản trên thế giới, những sách quý 300 năm Kaiser sưu tập từ châu Âu và sách đặt hàng từ các nhà xuất bản lớn, nổi tiếng. Tất cả đều được bọc bìa da, đặt trong những tủ sách cao tận trần nhà, người đọc được tự do lựa và lấy sách từ các kệ, tủ sách không cần qua thủ thư rồi ngồi đọc ở bất cứ nơi đâu mình thích (trong những căn phòng xa hoa, bên cạnh cửa sổ nhìn xuống khu vườn đẹp nhất Nepal có tên là Dream Garden do chính Kaiser thiết kế…). Hơi lạc đề một chút: chính thư viện Kaiser này đã níu chân mình ở lại Nepal, và suốt 2 năm đầu tiên mình đã làm con mọt sách bám trụ hàng ngày ở đây để lấp những lỗ hổng kiến thức bằng nguồn tư liệu Anh ngữ có thể nói là số một châu Á.
Dinh Kaiser, nay là trụ sở Bộ Giáo Dục Nepal
Bên trong Dinh Kaiser


Thư viện
 

Nơi uống trà, cafe và trò chuyện sau khi ăn tối

Dream Garden

   Chiếc Roll Royce Phantome III của Kaiser mà ông Vijay nhắc tới bị bỏ nằm phủ bụi suốt nhiều năm sau khi chủ nhân của nó qua đời. Năm 1972, một nhà sưu tập Mỹ tìm gặp con trai của Kaiser sống ở India và mua được nó với cái giá … sắt vụn: 10,000USD. Đến khi ông này lên đến Kathmandu cho đóng thùng và vận chuyển chiếc Phantome vào năm 1973 thì ông Vijay mới hay. Quá muộn. Chiếc Phantome sau đó được chở đến cảng Kolkata để vận chuyển bằng đường biển về Mỹ. Khi cẩu nó lên tàu thì đột nhiên cáp bị đứt. Roll Royce Phantome III rơi xuống biển. Chiếc xe vô giá vĩnh viễn ngủ yên dưới lòng vịnh Bengal, chừng như nó không muốn rời xa lục địa Ấn Độ của chủ nhân nó, người vì lòng đam mê đã san bằng mọi thứ để đưa “tình yêu” của mình về nhà.

Kaiser không chỉ là một “tay chơi” (player), một nhà sưu tập (collector) mà còn là một nhà bác học của Nepal, một người “dân túy” bạn thân của Thủ tướng India Neru. Ông chơi để học và học để chơi tới đẳng cấp cao nhất. Kiến thức của Kaiser trải rộng tới tất cả mọi lĩnh vực và ở tầm mức chuyên gia. Thập niên 1940, ông là người chỉ huy cuộc khảo cổ ở Lumbini. Cái hồ nơi Hoàng hậu Maya tắm trước khi sinh hạ Siddhartha đã được Kaiser cho nạo vét và cẩn gạch như ngày nay. Không phải ngẫu nhiên mà ông từng nắm giữ chức bộ trưởng quốc phòng và tài chính, cũng như làm đại sứ tại Anh. Thật ra niềm đam mê sách vở của Kaiser còn lấn át hơn cả đam mê xe hơi. Cũng như ông quý sách vở, kiến thức hơn là những tài sản khác. Bằng chứng là ông đã tặng cho nhân dân Nepal thư viện và cho ngành giáo dục  tư dinh của mình (dinh thự vào loại lớn và đẹp nhất nhì Nepal chỉ sau có Cung điện Sư tử). Nhân dân Nepal mãi nhớ đến ông vì những nghĩa cử đẹp này chứ không phải lối sống xa hoa, tài sản khổng lồ mà ông có. 
Góc tưởng niệm Kaiser ở thư viện của ông

Thư viện Kaiser đã được in lên tem
  Giàu có và sử dụng tài sản của mình như thế mới xứng đáng là Đại Gia, mới đáng kính phục. Kaiser SJB Rana, theo mình là nhân vật vĩ đại nhất của tộc họ Rana Nepal và là “Player” đáng ngưỡng mộ nhất của Nepal.

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Lý Quang Diệu: “Hãy cảnh giác với Trung Quốc!”


Thứ hai 25/02/2013 11:36
"Singapore không tin vào một Trung Quốc 'hiền hòa' và tôi nghĩ rằng các nước khác như Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand hay Việt Nam cũng đều không tin", cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khẳng định.

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu, người đã nghỉ hưu nhưng hiện vẫn đang là một trong những chính trị gia có tầm ảnh hưởng lớn ở châu Á vừa cho xuất bản một cuốn sách với nội dung bày tỏ một sự lo ngại đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Cuốn sách của cựu Thủ tướng Singapore vừa được xuất bản.
Trong cuốn sách của mình, ông Lý cho rằng “thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của cuộc cạnh tranh giành ngôi vị siêu cường thế giới giữa Mỹ và Trung Quốc” đồng thời theo phỏng đoán của ông, cuộc chiến này sẽ chủ yếu diễn ra ở châu Á và Đông Nam Á là một trận địa chiến lược. “Lợi ích cốt lõi của nước Mỹ đòi hỏi nước này phải giữ cho được vai trò siêu cường trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương với Đông Nam Á là địa điểm chiến lược”, ông Lý Quang Diệu viết. Cũng theo những phân tích của ông, với lợi thế vượt trội về khả năng, tinh thần sáng tạo, tính “đàn hồi” cao, khả năng phục hồi tốt… nước Mỹ sẽ bảo vệ được những lợi ích cốt lõi của mình, vượt qua sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc và “lấy lại” được tầm ảnh hưởng trong khu vực.
Nhưng trong cuốn sách có tiêu đề “Lee Kuan Yew: The Grand Master's Insights on China, the United States and the World” (tạm dịch: Lý Quang Diệu: Những cái nhìn sâu về Trung Quốc, Hoa Kỳ và thế giới) ông Lý cũng cho rằng, quá trình thực hiện chiến lược “lấy châu Á làm trọng tâm” của Tổng thống Obama đang cho thấy những vấn đề về chính sách của nước Mỹ. Đây là cuốn sách gồm tập hợp các bài phỏng vấn ông Lý của các nhà báo, chuyên gia nổi tiếng về chính trị thế giới như Graham Allison, Robert Blackwill và Ali Wyne.
Ông Lý Quang Diệu, cha của đương kim Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long khẳng định: “Nếu nước Mỹ muốn có sự ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển chiến lược của khu vực châu Á, họ không thể tiếp tục thực thi các chính sách ‘đến rồi đi’ như hiện nay”.
Trong lúc Mỹ đang tỏ ra thiếu những bước đi dứt khoát và quan trọng tại châu Á thì Trung Quốc đã và đang nổi lên với tham vọng không thể giấu diếm là muốn “hất cẳng” Mỹ để trở thành một siêu cường thống trị khu vực này trong thế kỷ 21.
"Liệu một quốc gia hùng mạnh và đã gần hoàn thành công cuộc công nghiệp hóa như Trung Quốc sẽ có thái độ ‘tử tế và hiền hòa’ với Đông Nam Á giống như những gì Mỹ đã thực hiện suốt từ năm 1945 đến nay hay không? Singapore không tin và tôi nghĩ rằng các nước khác như Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand hay Vietnam cũng đều không tin", cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu khẳng định.
Đi cùng với sự lo ngại một cách sâu sắc này, ông Lý còn nhận định rằng “rất nhiều các quốc gia vừa và nhỏ ở châu Á đang vô cùng lo lắng trước viễn cảnh phải đối đầu với một Trung Quốc tham lam và thâm hiểm. “Họ cảm thấy bất an khi Trung Quốc thể hiện ý đồ muốn khôi phục lại vị thế một “đế quốc” giống như họ đã từng trong nhiều kế kỷ trước đây. Dưới sự ảnh hưởng của Trung Quốc, các nước nhỏ ở châu Á bị khinh miệt, coi rẻ và bị đối xử rất bất công theo vị thế của một nước chư hầu. Trung Quốc đã từng nói với chúng tôi rằng họ coi nước lớn hay nước nhỏ đều bình đẳng như nhau và sẽ không thực thi các chính sách bá quyền. Nhưng khi họ làm, đặc biệt là khi họ khó chịu với hành động của các nước láng giềng họ đánh tiếng tuyên bố rằng điều đó đang khiến cho 1,3 tỷ dân của họ giận dữ và những nước nhỏ nên “biết điều” về vị thế của mình khi nói chuyện với Trung Quốc”, ông Lý viết trong cuốn sách.
"Tôi tin rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ hiểu, nếu họ ra sức chạy đua với Mỹ trong lĩnh vực sức mạnh quân sự, họ sẽ thua. Họ sẽ tự phá sản”, cựu Thủ tướng Singapore nói.
“Người Trung Quốc cần phải biết nhận ra bài học lịch sử mà Đức, Nhật đã từng vấp phải. Sức mạnh cạnh tranh của họ, tầm ảnh hưởng của họ và những nguồn tài nguyên mà họ khao khát đã dẫn cả thế giới này đến 2 cuộc đại chiến trong thế kỷ 20. Nước Nga đã phạm phải sai lầm khi rót quá nhiều ngân sách vào cho quân đội, quốc phòng và hậu quả là nền kinh tế - xã hội của họ sụp đổ một cách vô cùng nhanh chóng. Đó chính là những gì tôi nhìn thấy ở Trung Quốc hiện nay. Tôi tin rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ hiểu, nếu họ ra sức chạy đua với Mỹ trong lĩnh vực sức mạnh quân sự, họ sẽ thua. Họ sẽ tự phá sản”, vị cựu Thủ tướng Singapore nói.
“Chính vì thế, Trung Quốc hãy biết cúi đầu và mỉm cười thêm 40-50 nữa!”
Khi được hỏi: Liệu Trung Quốc có thể vượt Mỹ hay không? Ông Lý cho rằng nếu chỉ xét về con số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thì việc Trung Quốc vượt Mỹ trong một tương lai gần là điều không còn cần phải bàn cãi nhưng điều quan trọng hơn cả là khả năng sáng tạo của Trung Quốc sẽ còn rất lâu mới có thể đuổi kịp đối thủ ở phía bên kia bờ Thái Bình Dương. “Văn hóa của người Trung Quốc không cho phép trao đổi những ý tưởng một cách tự do hay cạnh tranh sòng phẳng và chính vì thế họ sẽ không bao giờ có thể đuổi kịp Hoa Kỳ”, ông Lý nói, “Trung Quốc cũng không bao giờ có thể trở thành một quốc gia dân chủ tự do thực sự. Nếu họ làm thế, họ sẽ sụp đổ. Nếu bạn cho rằng có một số cuộc cách mạng đang diễn ra ở phần nào đó ở Trung Quốc thì bạn đã nhầm”.
Tổng bí thư ĐCS Trung Quốc Tập Cận Bình
Khi nói về vị tân tổng bí thư Trung Quốc Tập Cận Bình, ông Lý Quang Diệu cũng đưa ra những nhận xét khá đáng chú ý: “Ông ta là rất kín đáo. Không bao giờ ông ta tỏ thái độ là ông ta không muốn nói chuyện với bạn nhưng ông ta cũng luôn thể hiện quan điểm rằng chẳng điều gì có thể làm ông ta thay đổi cái nhìn về những cái mà ông yêu hoặc ghét. Ông ta luôn mỉm cười một cách dễ chịu bất kể bạn có nói điều gì khiến ông ta ngạc nhiên hoặc khó chịu. Ông ta là một kẻ có tâm hồn bằng thép”.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013

CẬP NHẬT: NHÀ SƯ TÂY TẠNG TỰ THIÊU Ở KATHMANDU




      Nhà sư Tây Tạng tự thiêu tại Bảo tháp Boudhanath lúc 8 giờ sáng hôm qua đã mất chỉ vài giờ sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu do bỏng đến 96%.

   
     Nhà sư tuổi khoảng 20 đã được nhận diện là Thundup Dopchen đi từ Ấn Độ vào Nepal bằng đường bộ. Ông là người Tây Tạng thứ 100 đã tự thiêu để phản đối Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng vào đúng ngày đánh dấu 100 năm Tuyên Bố Độc Lập của Tây Tạng bởi Dalai Lama thứ 13 (13/02/1913).

  Theo lời các nhân chứng, ông đã vào nhà hàng Golden Eye  trong khu vực tháp Boudha mang theo một túi xách trong đó cất giấu một bình xăng. Sau đó ông vào phòng vệ sinh của nhà hàng. Tại đây, ông tưới hết cả can xăng lên quần áo và thân thể rồi bước ra khỏi nhà hàng. Đứng đối diện với chính diện bảo tháp ông cầu nguyện rồi bật lửa tự thiêu. Lửa bùng lên ông giang thẳng hai tay ra vừa chạy vòng theo bảo tháp vừa hô các khẩu hiệu chống Trung Cộng. Chỉ chạy được khoảng 50m ông ngã xuống, lửa vẫn còn phừng phừng bao phủ thân ông.

  Kể từ khi  đại sứ Trung cộng mới nhậm chức vào năm 2011, ở Boudha luôn luôn có một trung đội cảnh sát dã chiến túc trực để dập tắt bất kỳ cuộc nhóm họp biểu tình nào của người Tây Tạng. Khi nhà sư Dopchen tự thiêu, cảnh sát dã chiến đã chạy đến rất nhanh, nhưng vì bất ngờ và không hề chuẩn bị để ứng phó với tình huống nầy nên chỉ lúng túng chạy quanh không biết xử lý ra sao. Cuối cùng họ dùng bất kỳ thứ vải , áo nào trong tầm tay để quật tắt lửa trên người Sư Dopchen. Sự ứng phó vụng về này quá muộn để có thể cứu tính mạng Sư Dopchen.
Ảnh: Reuter

  Hôm nay, cảnh sát dã chiến đứng dầy đặc khu vực Boudha. Một số mang theo sẵn mền khổ lớn và bình chữa lửa. Sau sự kiện này, chắc chắn người Tây Tạng ở Nepal sẽ càng bị quản lý chặt chẽ hơn.

  Xin nghiêng mình kính cẩn vái lạy Ngài Thundup Dopchen, một vị Bồ Tát đã hiến dâng thân mình cho Đạo Pháp và Dân Tộc!
   Kathmandu 14/02/2013
    Nguyễn Phú

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

KỲ NHÔNG PHẠM DUY

Phạm Duy: -Người viết nhạc: thiên tài
                   -Thơ phổ nhạc: kẻ đại tài "mượn" của người khác làm của mình rồi phớt lờ ngay cả "chính chủ"... lại còn  ngụy biện: nhờ tôi mà các bài thơ ấy mới nổi tiếng... trong khi đúng lẽ phải xin phép nhà thơ cho phép mình phổ nhạc bài thơ của người ấy, sau đó còn phải thực hiện nghĩa vụ tác quyền với tác giả thơ. KHÔNG SÒNG PHẲNG!
       -Tư cách sống: Kỳ Nhông.

   Vẫn biết nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng xin hãy sòng phẳng với lịch sử vì Phạm Duy cũng là một trong những nhân vật của lịch sử VN hiện đại.
                  Người-Không-Phải-Là Fan-Cuồng-Của-Phạm Duy: Nguyễn Phú 

Cập nhật 02/02/2013:  mình không phản bác chuyện trở về của ông Phạm Duy, đấy là quyền tự do của mỗi cá nhân (được sống nơi mình chọn lựa). Giá như ông sống tĩnh lặng và không "đ (d) ại ngôn" như Tướng Nguyễn Cao Kỳ... Nhưng như thế đâu còn là Phạm Duy... Chợt liên tưởng đến một cuốn sách của thầy Nguyễn Trọng Văn của mình "Phạm Duy đã chết như thế nào?" Sách viết mấy chục năm rồi mà vẫn còn rất thời sự. Hay một câu bình luận của blogger Cô Gái Đồ Long: "Phạm Duy còn bảo rằng nếu trước khi ông ra đi như Hoàng Cầm mà nghe được những tổ khúc của mình được công bố rộng rãi trên sân khấu thì đời mới thật mãn nguyện lắm lắm. Nhưng mà làm người chẳng nên tham lam quá!"  
        NP

 ******************************************************************************
   Thì ra trở về qui hàng chỉ để tìm lại cái ảo vọng hào quang. Về để bán cái danh dự còn sót lại - để được sống trong kẻ hầu người hạ ? để chạy "mánh" bằng cái gia sản âm nhạc mà thỏa mãn dục vọng ?

Cứ nhìn một ông già tóc bạc da nhăn nheo, lơi lả bốc hốt, sờ mông bóp ngực các cô gái bằng tuổi cháu cố nội cố ngoại, bên bàn tiệc bia rượu, không ít người chau mày khó chịu ?

PHẠM DUY - KẺ QUI HÀNG, ĐÃ CHẾT TỪ NĂM 2005 ... 

http://www.trinhanmedia.com/2013/01/pham-duy-ke-qui-hang-chet-tu-nam-2005.html
Hoàng thị Hoài Hương
28-01-2013

Phạm Duy nói: "Yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi". Phải nói lại: "Yêu nước của "tôi" nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi".

Tin nhạc sĩ Phạm Duy qua đời vào ngày chủ nhật 27-1-2013 tràn lan trên mạng. Ông qua đời tại Việt Nam, thọ 92 tuổi. Thật ra Phạm Duy với những trường ca quê hương, đã chết từ lâu, từ năm 2005 khi ông trở về qui hàng và sống tại Việt Nam.
Hãy đọc những lời chối bỏ của Phạm Duy khi BBC hỏi trong buổi phỏng vấn ngày 19-12-2012 (cách đây hơn 1 tháng)

BBC: Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” đúng không?
Phạm Duy: Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi."


Quên thật ư - " Một Ngày 54, Một Ngày 75" ??!!! Khi loài quỉ dữ xua ta ra đại dương ???
Và đây: "Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm." 
Thì ra trở về qui hàng chỉ để tìm lại cái ảo vọng hào quang. Về để bán cái danh dự còn sót lại - để được sống trong kẻ hầu người hạ ? để chạy "mánh" bằng cái gia sản âm nhạc mà thỏa mãn dục vọng ?

Cứ nhìn một ông già tóc bạc da nhăn nheo, lơi lả bốc hốt, sờ mông bóp ngực các cô gái bằng tuổi cháu cố nội cố ngoại, bên bàn tiệc bia rượu, không ít người chau mày khó chịu ?


Tự trọng đâu ? "Đạo ca" đâu ? Triết lý sống của "Chàng dũng sĩ và con ngựa hồng" không thắng nổi Tham Sân Si trong người nhạc sĩ già háo thắng ?

Đấy hình ảnh Phạm Duy vào tuổi 84, đãi bôi, phản bội thế đấy.

Ông nói với BBC, "Tôi về đây [VN] là vì tôi yêu nước".
Yêu nước như đảng đã từng hô hào yêu nước ? yêu nước nên vội bỏ quốc tịch Hoa kỳ để chạy chọt được yêu xã hội chủ nghĩa, yêu bạo quyền tư bản đỏ ?

Vâng ông đã về, bằng cái đầu cúi, cái lưng cong và hai chân quì,
Không ai cản ông trở về quê hương sống cuộc đời già yếu còn lại. Nhưng phải sống sao cho có nhân cách, sống sao cho đúng nghĩa con người.

Ôi, các dân oan bị cướp đất, cướp nhà, đang sống vất vưởng - nơi công viên, nơi vỉa hè
Ôi các em thanh niên đang bị đàn áp đánh đập trấn giữ tù ngục chỉ vì yêu nước
Ôi, những người đang "khóc cười theo mệnh nước nổi trôi"

Phạm Duy chính là kẻ phản bội, một kẻ phản bội đáng bị nguyền rủa.
Chữ "yêu nước" không bao giờ dành cho ông Phạm Duy, cho dù ông là một nhạc sĩ đại tài.

Xin các người đang xử dụng ngòi bút, đừng xưng tụng vinh danh - một kẻ phản bội - quá lố mà vô tình đâm vào vết thương của những người đang hy sinh vì hai chữ yêu nước.

Trí Nhân Media

**************

PHẠM DUY: "TÔI VỀ ĐÂY LÀ VÌ TÔI YÊU NƯỚC"
BBC
19-12- 2012
Nhạc sỹ Phạm Duy kể lại những biến cố trong cuộc đời mà ông đã trải qua, từ cuộc di cư từ Bắc vào Nam, các sự kiện Mùa Hè đỏ lửa, tháng 4/1975 và chuyến vượt biên lênh đênh qua Hoa Kỳ của ông.
Trong phần II của cuộc trao đổi với BBC, chương trình BấmYour World, ông cũng dành thời gian nói về quan điểm sống, quan niệm sáng tác, về kỷ niệm của nhiều ca khúc và đặc biệt nói về chuyến trở về Việt Nam sau hàng chục năm sống ở xứ người.
BBC: Ông rời Việt Nam sang Mỹ năm 1975, ông có thể kể về toàn bộ chuyến đi và thời gian ông ở Mỹ được không?
Cũng vất vả lắm, nhưng cũng xong rồi. Đầu tiên tôi cũng không đi đâu được cả, bởi vì lúc đầu chỉ có 250.000 người Việt Nam ở rải rác khắp nơi, nhưng rồi nó lên đến 2 triệu người, thì tôi đi hát cho những người đó nghe.
BBC: Ông ở Philippines bao nhiêu lâu trước khi đến Mỹ?

Ở trong trại tị nạn hồi đó, đáng lý ra tôi phải đi ra ngoài ngay. Nhưng tại vì lúc đó tôi bị kẹt vì mấy người con còn ở lại. Thành ra tôi cũng nán lại. Nhưng hình như chỉ ở độ 3 hay 4 tháng thôi. Đi sang bên đó vào đầu tháng Năm, thì vào tháng Tám, tháng Chín thì tôi ra khỏi trại.
BBC: Và khi ông tới Mỹ thì có vấn đề gì không?
Không, không có vấn đề gì. Tôi không có coi cái gì là quan trọng cả. Tất cả giản dị lắm.
BBC: Khi đi Mỹ thì ông có tâm trạng như thế nào, ông có buồn không?
Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui.
BBC: Khi đi Mỹ, ông xuất bản cuốn “Musics of Vietnam” ra sao và việc biểu diễn âm nhạc của ông ở Mỹ thế nào?
Cái đó tôi viết lâu rồi, nhưng khi sang tới Mỹ, lúc đó mới kịp in ra. Cuốn “Musics of Vietnam” tôi viết từ lâu. Tôi đi gần như khắp nước Mỹ. Khổ nỗi là lúc đó tôi đã già rồi, đã trên 50 tuổi rồi, không đủ sức khỏe để đi nhiều thôi. Nhưng tôi sang bên đó, thì tôi đi hát chung với những người nhạc sỹ, ca sỹ Mỹ. Và đồng thời gia đình tôi cũng có mấy người đi hát với tôi. Hồi đó Khánh Ly cũng đi hát chung trong nhóm của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đi luôn.
BBC: Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” đúng không?
Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi.
BBC: Khi ông về lại Việt Nam, phản ứng của chính quyền thế nào, có vấn đề gì không?

"Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui"
Rất tốt. Khi tôi về, đầu tiên, tôi xin lại, hồi tịch lại, tôi lại trở thành người Việt Nam ngay. Tôi không còn là người Mỹ nữa. Đó là một cái rất tốt. Đối với tôi và chính quyền ở đây không có vấn đề gì cả. Họ cũng thấy tất cả mọi sự trong cuộc gọi là giao tranh giữa hai miền như vậy, thì không có ai...
BBC: Còn phản ứng của mọi người nói chung ra sao?

Rất tốt. Là vì khi tổ chức một đêm “Ngày trở về” ở Hà Nội, thì tất cả các ca sỹ thượng thặng đều tham gia hết.
BBC: Cảm xúc của ông khi trình diễn “Phạm Duy – Ngày trở về” ở Nhà hát lớn như thế nào?
Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm. Tôi còn nhớ là lúc còn trẻ, tôi làm bài “Nhạc tuổi xanh”. Trong đó có một câu là “Đường ta, ta cứ đi”, thì bây giờ thì “Đường về, ta cứ về thôi.” Giản dị. Hồi đó tôi cũng thấy bình thường thôi. Tôi đã đứng hát trên sân khấu Nhà hát lớn cách đây gần 60 năm rồi. Bây giờ tôi trở lại, tôi cũng vui chứ. Chỉ có vấn đề là hát không có hay như ngày xưa thôi, dở lắm.
BBC: Được biết là chỉ có 10% bài hát của ông được cho phép ở Việt Nam, cái này đúng không?
Đúng rồi, nước nào người ta cũng có những quy định về vấn đề cho phép hay không cho phép. Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi chỉ có 1/10 sáng tác của tôi thôi, là cũng giản dị là vì tôi không đứng ra xin phép. Nếu tôi xin phép, có thể họ cũng cho ra đấy. Nhưng ở đây phải xin phép mới được. Thế thôi, không có gì khó cả. Rất giản dị. Những người ngoài thấy là hơi bất bình là vì tại sao tôi nhiều bài như vậy mà chỉ cho tôi có 100 bài thôi. Nhưng khổ nhất vấn đề là tôi phải đứng ra tôi xin thêm thì người ta mới cho chứ. Không xin thì người ta không cho.
BBC: Ông có không băn khoăn gì về chuyện phép tắc đó không?
Tôi nói rằng tôi về đây, cứ hát một bài của tôi là cũng xong rồi. Đừng nói là được hát 100 bài. Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi.
BBC: Ông có viết một số bài gọi là “Hương ca” nói về cảm xúc của ông khi về nước đúng không?
Đúng, những bài đó là tâm tình của tôi đấy. Lúc tôi về nước, tôi làm 10 bài hương ca. Nhưng mới xin phép được 5 bài thôi. Bởi vì tôi chỉ mới xin phép 5 bài thôi. Ví dụ như bài “Hương rừng Cà Mau”. Đây là bài thơ của một thi sỹ tên là SơnNam. Tôi làm một bài để xưng tụng những người đầu tiên đi khai phá miềnNam.
'Đang xin phép'
BBC: Trước đây ông có một trường ca rất nổi tiếng là “Mẹ Việt Nam,” tác phẩm này có được phép không?

“Mẹ Việt Nam” và “Trường ca Miền Nam” là hai bài đang xin phép. Cũng mới gửi đi xin phép, thành ra không thể nói gì hơn được nữa. Nếu mà được thì càng tốt, bởi vì những bài đó xưng tụng sự thống nhất của đất nước và con người.
BBC: Ngoài bài “Mẹ Việt Nam”, cũng có bài “Việt Nam, Việt Nam”, Việt Kiều ở Mỹ nghĩ gì về bài đó?
Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm. Bởi những người đó vẫn còn nuôi oán thù. Mà tôi chủ trương là sau 30 năm trời, thì phải đến các lúc mà có sự hòa hợp dân tộc. Thì phải thế thôi. Thế còn người nào cất tiếng lên chửi bới nhau chỉ vì đi về Việt Nam không thôi, thì tôi không nói chuyện với họ. Muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khi tôi làm bài đó ra, tôi đâu có nghĩ đến trường hợp đến một ngày nào đó, có một người Việt Nam ở bên Mỹ lại hát bài đó. Tôi chỉ làm ra thôi. Cái tình cảm của tôi lúc đó vẫn là hòa hợp dân tộc.
BBC: Ông viết “Mẹ Việt Nam” năm 1965, tại sao lúc đó ông lại muốn viết bài này?
Đầu tiên nước Việt Nammình sinh ra là một nước theo chế độ mẫu hệ. Tức là xưng tụng người đàn bà nhiều hơn. Tôi cũng dựa vào cái đó để tôi nói về lịch sử ViệtNam. Lịch sử Việt Namthì cũng có những lúc chia rẽ nhau như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh chẳng hạn. Thế nhưng cũng có thời họ thống nhất. Nước Việt Nam mình đã có thời kỳ chia cắt, thì phải có lúc thống nhất thôi.
BBC: Có người nói ông có công lớn với âm nhạc Việt Nam, ông nghĩ sao?
Không, không nói công với tội gì cả. Tôi sợ những cái đó. Ai khen tôi hay ai chê tôi, tôi đều sợ cả. Vì tôi làm việc cũng như người làm ruộng thôi. Làm ruộng thì phải cấy lúa, làm nhạc thì phải đánh đàn, giản dị thế thôi.
BBC: Có một số bài chưa nói tới như “Gánh lúa.”
Ô, bài ấy hay lắm. Bài ấy vui lắm. Bài ấy là bài cuối cùng của tôi làm trong khi còn ở Kháng chiến. Bài ấy tôi diễn tả một đoàn người nông dân đi gánh lúa để nuôi lính, nuôi quân. Hay lắm. Khi tôi hát bài dân ca, thì cũng có khi có những người hát thay tôi bài “Gánh lúa”. Nếu tôi không nhầm, thì tôi giữ được nhiều “versions” của những người này, người họ hát. Họ hát hay lắm, rất ViệtNam.
BBC: Rất nhiều ca sỹ đã trình bày các bài hát của ông, ông nghĩ gì về họ?
Nhiều lắm. Thái Thanh suốt đời hát nhạc của tôi. Còn Khánh Ly cũng hát. Ai cũng hát hết, những người nhạc sỹ già đó. Còn những người nhạc sỹ trẻ như Tấn Minh hay Đức Tuấn hay Mỹ Linh cũng đều hát nhạc của tôi hết. Tất nhiên là họ hát những bài đã được phép. Nước nào cũng có quy luật của nó chứ. Anh làm sao đi quá luật được.
BBC: Từ đầu 1960 so với Tết Mậu Thân, thì nhạc của ông có thay đổi không?
Cái đó thì phải để người khác người ta phê bình, chứ tôi không biết. Tôi chỉ biết làm thôi. Đại khái như bài nhạc của tôi làm hôm nay nó khác với bài trước như thế nào, thì tôi chịu chết (không thể biết được). Tôi không thể giải thích được. Người khác giải thích hộ tôi.
BBC: Nhưng có một số bài nói về thiên nhiên vào những năm 1950 và đầu 1960, như là bài ca “Sao” và “Chiều về trên sông”, ông có thể nói gì về quan hệ thiên nhiên và âm nhạc?
Lúc đó là lúc tôi bỏ qua trường hợp nhìn vào đất nước Việt Nam. Tôi muốn nhìn vào cuộc đời nhiều hơn. Tôi nói những câu chuyện về “Bài ca sao”, “Bài ca Trăng”, thì nó vượt ra khỏi nước Việt Nam rồi.
BBC: Từ năm 1954-1975 ở miền Nam, không khí âm nhạc thời đó như thế nào?
Tôi không nhớ được, quên rồi. Thời cuộc của Việt Nam thay đổi nhiều quá, thành ra tôi cũng quên mất.
BBC: Nhưng khi ông hát “Tâm phẫn ca”, sinh viên nghe thì họ thấy sao?
Cái đó thì họ phải thích chứ. Bởi vì cái đó cũng nói lên được lòng căm giận của họ cũng như của tôi, là vì chiến tranh kéo dài quá.
BBC: Về âm nhạc mà ông đã sáng tác sau khi về Việt Nam năm 2005, ông có thể nói về trường ca về “Minh họa Kiều”?

Về đây tôi mới sáng tác được toàn vẹn “Minh họa Kiều”. Vì “Minh họa Kiều” dài lắm. Nó dài phải đến hơn 2 tiếng đồng hồ mới hết. Tôi mới làm được 3 phần, về đây tôi làm nốt là phần thứ tư, về đây mới làm được, xong rồi. Tôi làm “Hương ca” là bản nhạc mới. Rồi tôi làm thêm những bài nhạc phổ thơ của thi sỹ Bích Khê. Đó cũng là những cái mới hết. Muốn biết nó ra sao thì phải mua đĩa để nghe thôi.
Trong “Hương ca” nó nói gì? Nó nói về tình yêu nước. Mà yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi. Ngày xưa tôi làm bài “Tình hoài hương” là vào 1950, thì cái đẹp của đất nước nó khác cái đẹp của bây giờ. Ví dụ như là ngày xưa còn có những người đàn bà con gái răng đen, và đồng thời ăn mặc quần áo nâu. Bây giờ người con gái, anh đi về vùng quê anh coi, họ mặc hoàn toàn giống như những người mới, chứ không phải như người cũ nữa. Vậy thì tình cảm của tôi cũng phải khác đi.
BBC: Ông chọn một bài thơ để phổ nhạc như thế nào, ông có thể cho một vài ví dụ?

Tại sao tôi chọn bài thơ của ông Hoàng Cầm, là vì lúc đó ông Hoàng Cầm là nhà vô địch của những bài thơ kháng chiến. Tại sao tôi lại phổ thơ của ông Phạm Thiên Thư, là vì lúc đó, ông Phạm Thiên Thư đưa ra những loại nhạc lúc đó gọi là “Đạo ca”, là những cái mới hết. Ông Nguyễn Tất Nhiên là những bài ca ngộ nghĩnh, vui vẻ. Tôi chỉ có thể nói thế được thôi, còn đi vào chi tiết, không thể nói được.
BBC: Còn các bản “Tị nạn ca” thì sao?

“Tị nạn ca” là những bản nhạc nói chung về những vấn đề những năm không còn ở trong nước nữa. Đó là tị nạn chứ gì. Thế nhưng xong rồi thì tôi thấy là nó là những bản nhạc hơi “ảo ảnh quê hương”, chứ không phải là bản nhạc thật. Ngồi ở Bridgeway City mơ tưởng đến cánh đồng Việt Nam, thì nó hơi vô duyên quá (non-sense). Sau tôi quyết định tôi không nhắc đến nữa.
BBC: Giáo sư Trần Văn Khê sẽ viết về những tác phẩm nào của ông không?
Tôi không biết, chỉ biết là ông ấy đã viết được trên 100 trang rồi.
BBC: Ông là người rất nhạy về công nghệ, nhất là ứng dụng cho âm nhạc, ông đã sản xuất một CD đầu tiên ở Mỹ. Ông có thể nói gì về chuyện này?
Giản dị thôi, ngày xưa, tôi đi học ở trường Kỹ nghệ thực hành, thành ra những cái gì thuộc về vấn đề kỹ thuật, tôi thích lắm. Khi có được thời đại computer, năm 1982 là lúc computer ra đời, thì tôi vội vàng học ngay rồi. Từ đó tới nay, tôi áp dụng vào trong sáng tác nhạc, thì rất tốt. Nếu tôi không đi học được kỹ thuật, thì tôi không hiểu biết được kỹ thuật mới. Tôi nghĩ là tôi may mắn hơn những người khác là tôi thấy ngay được cái hay, cái ích lợi của computer và tôi dùng nó ngay.
BBC: Ông biết gì về phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”? Âm nhạc của phong trào này khác gì với nhạc của ông?
Không, tôi không làm loại đó. Cái loại đó của người khác làm. Ông Tôn Thất Lập thì phải. Không phải tôi. Tôi không biết. Tôi không được nghe những bài đó. Tôi có biết là ông ấy có làm những bài hát là “Hát cho đồng bào nghe”, nhưng tôi không có ở trong tay để biết là bài đó ra sao. Tôi không dám phê bình.
'Sức mấy mà buồn'
BBC: Âm nhạc ở miền Nam Việt Nam ngày xưa có rất nhiều luồng, quan hệ giữa chúng ra sao?
Tôi cũng biết hết đấy, nói cho nó ngay ra mà nói là không biết thì không đúng, nhưng mà biết, nhưng nó không ảnh hưởng đến tôi gì cả. Tôi kính trọng những bài đó, thế thôi. Tôi không chê mà tôi cũng không khen.
BBC: Mục đích nhạc của ông những năm 1960 là gì?
Vẫn là con đường cũ tôi đi theo. Tức là vấn đề “khóc, cười theo mệnh nước”, lúc nào nước vui, thì tôi cười, thế còn lúc nào nước buồn thì tôi khóc.
BBC: Có sự kiện nào trong lịch sử làm cho ông buồn?
Không bao giờ tôi buồn cả, bởi vì tôi có bài hát gọi là “Sức mấy mà buồn”. Không bao giờ tôi buồn cả. Buồn làm gì, vô ích. Nếu có buồn, thì cũng chỉ buồn đại khái thôi, nói cho nó vui thôi chứ, không bao giờ tôi bị buồn cả.
BBC: Nhưng có một số bài buồn như là “Ngậm ngùi”?
“Ngậm ngùi” thì đâu có buồn. Đó là một bài hát an ủi. Ông ta làm thơ như vậy để khuyên mọi người trở về với đời sống bình thường thôi. Thì đó là an ủi nhau thôi chứ không có gì mà buồn.
BBC: Bài “Quê nghèo” chẳng hạn?
“Quê nghèo” thì thực sự là buồn. Đó là bởi vì chiến tranh. Tôi làm bài “Quê nghèo” đó là người ở quê là người dân nghèo, đói nhất ViệtNam, lại còn bị chiến tranh nữa. Thì tôi diễn tả đó thôi.
BBC:Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?
“Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người Việt Nam rất cảm động, rất thích, là bởi vì tôi nói được những cái đó lên.

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

Nếu chúng ta muốn mang đến sự thay đổi



Lời của Tổng Thống Obama:
Nếu chúng ta muốn mang đến sự thay đổi, nó phải bắt đầu từ chúng ta, từng người một và từng nhóm một.

- Khi bắt đầu là một người tổ chức cộng đồng trẻ tuổi tại Chicago, tôi đã học được rằng: những ý tưởng tuyệt vời nhất, những cái đã thành công, có từ những người (việc) bình thường nhất. Không ai cần phải trông chờ vào các nhà chính trị ở Trung Ương (Washington) : Sự thay đổi xảy ra khi từng cá nhân có trách nhiệm với từng người khác và cộng đồng của họ.

      (Lược dịch từ thư kêu gọi tham gia Ngày Phụng Sự - 16/01/2013 của Tổng thống Barak Obama)

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

HAPPY THARU NEW YEAR 2367!


Nhân dịp "Tết" Maghi của người Tharu, Phú-Nepal xin kính chúc tất cả bạn đọc một năm Hạnh Phúc!

Tết Maghi của người Tharu sẽ diễn ra trong hai ngày 14-15/01/2013 tức mồng một tháng Maag theo lịch Nepali hoặc Hindi. Tháng Maag bắt đầu cũng chính là lúc kết thúc tháng Push được coi là tháng có thời tiết khắc nghiệt, xui xẻo nhất trong năm.


   

Người Tharu chính là cư dân của Vương quốc Sakya xưa kia. Sau thảm kịch Kapilavastu,các Sakya bđuổi tận giết tuyệt đã phải rời khỏi quê hương. Tại vương quốc Sakya, chỉ còn lại những thường dân không mang họ Sakya, đấy chính là người Tharu ngày nay.
  Xin mời các bạn đón đọc các bài về người Tharu đi chung trong loạt bài về họ Sakya.
  Nguyễn Ph
 Tháng 01/2013  

 

Thứ Bảy, 12 tháng 1, 2013

CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ NEPAL: HỌ THÍCH-CA Ở KATHMANDU

Quý bạn đọc thân mến,
Cách đây hơn mười năm một "tiếng gọi" (the call) từ Himalaya đã vọng đến tác giả vào một buổi sáng tháng Giêng trong hình thức một làn hơi lạnh giá. Sau đó tác giả đã quyết định lên đường một cách trừu tượng mà không hề biết mình sẽ bắt đầu từ đâu và đi đến đâu. Để chuẩn bị cho chuyến đi này, tác giả đã soạn ra cả một danh sách dài những việc cần làm trong đó có cả việc học những kỹ năng viết lách, quay phim, chụp ảnh... và đã tiêu tốn bốn năm trời dành dụm tiền bạc và học hỏi mọi thứ (kể cả làm phóng viên cho một đài truyền hình để học kỹ năng, nghiệp vụ). Cuối năm 2005, tác giả đặt chân đến Nepal (Kathmandu và Lumbini) một cách bất ngờ không hề có sự chuẩn bị trước trong một chuyến đi độc hành nửa hành hương nửa để cầu siêu cho người mẹ vừa quá cố của mình. Tại đây tác giả đã nhận chân ra "tiếng gọi" vang vọng đến mình 5 năm trước, và chọn xứ sở này làm quê hương thứ hai. "Tiếng gọi" ấy đã tặng cho tác giả một chủ đề nghiên cứu cả đời (life time's subject): The Sakya (Họ Thích-ca).
  Sau 7 năm nghiên cứu, tác giả xin đưa lên đây những thu thập ít ỏi bước đầu của mình về một chủ đề có quá ít người tìm hiểu. Mong các bài viết này nhận được sự quan tâm của các bạn!
  Trân trọng,
  Nguyễn Phú

******************************************************
HỌ SHAKYA Ở KATHMANDU: PHẦN 1

Họ Thích-ca thuộc 18 bahal (tự viện) khắp Kathmandu tập trung cầu nguyện hàng tháng

Kathmandu Valley (Thung Lũng Kathmandu), thủ đô hiện tại của nước Nepal, vốn là một vương quốc nhỏ trong vùng Himalaya với tên gọi từ thời cổ đại (hơn 500 năm trước Công Nguyên) là Nepal-Mandala. Tên Nepal-Mandala bắt nguồn từ vị trí địa lý của thung lũng này với những dãy núi bao quanh giống như những cánh hoa sen trong một đồ hình mandala.
  Rất nhiều người biết đến chi tiết Kathmandu Valley là một mandala, nhưng không mấy người biết đấy là mandala gì... vì Mật tông Hindu và Mật tông Phật giáo có đến hàng vạn mandala. Câu chuyện về Mandala của Kathmandu xin bàn vào một dịp khác.
  Kathmandu Valley chính là nơi cư trú được chính thức ghi nhận của hậu duệ cộng đồng Sakya-Tộc họ đã sản sinh ra một trong những nhân vật nổi tiếng nhất lịch sử thế giới: Sakya Buddha (Đức Phật Thích-ca).
Sakya là viết theo tiếng Sanskrit hoặc Pali; Shakya là theo tiếng Newari-ngôn ngữ cổ đại của người bản địa Kathmandu Valley, cũng từ này phiên âm theo tiếng Hán là Thích-ca. Kể từ đây tác giả xin được phép dùng từ Sakya hoặc Shakya để dễ dàng cho bạn đọc khi tra cứu hay tìm kiếm về tộc họ này tại Kathmandu Valley hay từ các nguồn khác với nguồn Hán-Việt (điều này phát xuất từ kinh nghiệm thực tế của tác giả vì ngoài người Việt ra, chẳng một ai biết đến họ Thích-ca! Cũng như dùng các danh từ riêng theo tiếng nước ngoài không phải vì tác giả sính dùng ngoại ngữ).

  Nguồn gốc của tộc họ Shakya tại Kathmandu có thể truy nguyên về đến tận thời Sakya Buddha còn tại thế. Khi ấy vua Vidudabha của vương quốc láng giềng hùng mạnh Kosala đã tận diệt họ Sakya tại Kapilavastu (thành Ca-tỳ-la-vệ). Tộc họ Sakya mất nước đã phải lưu vong, tản mác khắp bốn phương trời. Một nhóm Sakya đã theo những con đường mòn của giới thương buôn vượt qua dãy núi Terai tìm đến Kathmandu Valley. Tại đây, một hoàng tử Sakya đã kết hôn với công chúa của vua địa phương tộc họ Kirat (tộc họ này thuộc sắc dân Naga sống trải dài từ Himalaya đến tận Việt Nam; người Việt là một nhánh của Naga di cư từ Himalaya- xin viết về chủ đề này trong một bài khác). Cộng đồng Sakya của Kathmandu Valley bắt đầu định cư và định hình, cũng như có ảnh hưởng quan trọng đến lịch sử Kathmandu suốt 2.500 năm nay.
  Cộng đồng Sakya lâu đời nhất thuộc về Chabahil. Theo ngôn ngữ Newari, bahil hay bahal tương đương với vihara của Sanskrit. Tuy nhiên, bahil hay bahal không phải một ngôi chùa hay tu viện (pagoda, monastery) dành cho giới tăng-ni như Phật giáo Bắc tông hoặc Nam tông. Nó là một kiến trúc khép kín với 4 dãy nhà xoay mặt vào một cái sân, trung tâm là một stupa (bảo tháp). 
Mô hình một Bahil
Bahal thì có quy mô lớn với các dãy nhà của tộc họ Shakya bao quanh ba cánh và một cánh dành cho ngôi chùa của họ. Bahil thì quy mô nhỏ hơn, hầu như gói gọn vào một ngôi chùa. Đúng nghĩa, bahil hay bahal là một ngôi nhà sinh hoạt chung của họ Shakya. Họ tụ tập tại đây để cầu nguyện, cúng dường, làm Phật sự hay chỉ đơn giản là sinh hoạt cộng đồng. Bahil và Bahal cũng có tăng ni cư trú để tu tập nhưng họ Sakya không có khái niệm "sư-ni trụ trì". Cho đến ngày nay (thế kỷ 21) họ Shakya vẫn duy trì truyền thống dân chủ cộng hòa của vương quốc Sakya xa xưa ở Kapilavastu. Mỗi cộng đồng có một vị thủ lĩnh (thường là vị cao niên nhất hoặc có uy tín nhất) gọi là Thakali. Thakali sẽ chủ trì các buổi cầu nguyện, cũng như các buổi họp cộng đồng trong đó quyết định sẽ cuối cùng tuân theo nguyên tắc đa số. 
Aarta Man Shakya-Thakali hiện tại của toàn bộ Shakya ở Kathmandu Valley

  Theo lịch sử Kathmandu, có 18 bahal thuộc họ Shakya được xem là chánh tông. Vấn đề chánh tông này xuất phát từ hơn 1000 năm trước, khi các vua trị vì Kathmandu Valley lập ra hệ thống Jati (caste theo tiếng Anh). Thực ra nếu dịch Jati /caste thành từ "đẳng cấp" hoặc "giai cấp" trong tiếng Việt thì chưa chính xác. Jati là hệ thống phân biệt nghề nghiệp; những nghề nào xã hội cần hơn, hàm chứa nhiều chất xám hơn thì được đánh giá cao hơn những nghề làm lụng tay chân hay nghề làm những việc thấp hèn. Trong hệ thống ấy, một số người theo Phật giáo của Kathmandu Valley được xếp vào họ Shakya-nghĩa là người theo đạo Shakya Buddha (giống như pháp danh với họ Thích của Phật giáo Bắc tông). Sự kiện này cùng với việc các bahil và bahal được xây dựng ngày một nhiều (trong đó có một số bahil, bahal không thuộc họ Shakya) đã dẫn đến việc họ Shakya thống nhất nhìn nhận trong toàn Kathmandu Valley chỉ có 18 bahal-bahil chánh tông. Và người của 18 bahl-bahil này mới thuộc họ Sakya chánh gốc.