Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

XIN TRÂN TRỌNG TUYÊN BỐ:

Vô cùng kính phục anh NGUYỄN ĐẮC KIÊN đã dũng cảm tuyên bố tâm tư của rất rất nhiều người Việt!


http://anhbasam.wordpress.com/2013/02/26/vai-loi-voi-tbt-dcs-vn-nguyen-phu-trong/#more-94507

NGUYỄN ĐẮC KIÊN
......
Bây giờ, tôi trân trọng tuyên bố những điều tôi muốn:
1- Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới để Hiến pháp đó thực sự thể hiện ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành.
2- Tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước.
3- Tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc.
4- Tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào.
5- Tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản của các ông ban cho, nên các ông cũng không có quyền tức đoạt hay phán xét nó. Vì thế, tôi có thể xem những lời phán xét trên của ông, nếu có hướng đến tôi là một sự phỉ báng cá nhân. Và tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại.

Thứ Bảy, 23 tháng 2, 2013

NĂM 1989- SINH VIÊN SAIGON ĐÃ BIỂU TÌNH



BỔ SUNG CHI TIẾT VỀ VỤ BIỂU TÌNH THÁNG 7-1989 CỦA SINH VIÊN KTX NGÔ GIA TỰ

KTX NGÔ GIA TỰ ngày nay (hình từ Internet)

  Quá khứ tưởng đã ngủ kỹ trong ngăn kéo ký ức, và ngỡ rằng sự kiện ấy đã mất tăm như viên sỏi ném vào dòng sông đầy ắp các diễn biến lịch sử.
  Hôm nay đọc phần II-Quyền Bính (Bên Thắng Cuộc  của Huy Đức), đến chương 13-Đa Nguyên , mục Sinh Viên và Các Phong Trào Tự Phát thấy tác giả Huy Đức có nhắc qua cuộc biểu tình tháng 7/1989 của sinh viên KTX Ngô Gia Tự, ký ức tưởng đã vùi quên qua bao nhiêu năm vật lộn mưu sinh chợt ùa về như thác lũ. Mình xin bổ sung thêm một số chi tiết về cuộc biểu tình này ở góc độ một quần chúng tham gia trong cuộc.
   Năm 1989 là năm cuối đại học của mình, cũng là năm Nguyễn Sơn Thủy Hùng tham gia vào Ban Tự Quản Sinh Viên tại KTX Ngô Gia Tự (đại diện cho sinh viên Tổng Hợp) cùng với Phạm Văn Chiến, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Phong Thanh đại diện cho sinh viên các trường Y, Nha, Tài Chính. Hùng là bộ đội xuất ngũ cùng với Nguyễn Ngọc Vinh của khoa Văn. Hùng cao to, nồng nhiệt với chính trị. Cùng năm ấy Lê Công Định học năm cuối Đại Học Pháp Lý Bình Triệu, Lê Vĩnh Trương học năm cuối khoa Anh ĐHTH (cùng ở KTX Ngô Gia Tự).
  Tin truyền miệng giữa các sinh viên quan tâm tới thời sự về việc sinh viên Trung Quốc biểu tình ở Thiên An Môn tháng 5-6/1989 làm mọi người “ngứa ngáy”. Sự thất vọng về thể chế cầm quyền cùng với sự không hài lòng về  các chủ trương, chính sách kinh tế làm cho mức sống dân chúng quá thấp, mà sinh viên là tầng lớp dễ cảm nhận nhất. Ai cũng trông ngóng một cái gì đó, tuy rất mơ hồ nhưng có thể chắc là khác hẳn hiện tại. 

   Cuộc biểu tình tự phát một tháng trước đó của sinh viên Ký Túc Xá (KTX) Trần Hưng Đạo (nơi cư trú của sinh viên các trường ĐH Kinh Tế TPHCM, ĐH Dược TPHCM, Nghệ Thuật Sân Khấu 2) xảy ra đột ngột làm cho nhà cầm quyền TPHCM và lực lượng công an không hề phòng bị đã để cho lực lượng sinh viên kéo đến tận quảng trường ngay trước Ủy Ban Nhân Dân TPHCM. Yếu tố bất ngờ này giúp sinh viên KTX Trần Hưng Đạo giành được thắng lợi và thắng lợi này đã thổi một luồng sinh khí vào tầng lớp sinh viên Saigon vốn đã rạo rực với tin tức về cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc ở Thiên An Môn. Tuy nhiên nó cũng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo cho nhà cầm quyền ở TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung về khả năng xảy ra các cuộc biểu tình khác của sinh viên Saigon mà hiệu ứng sẽ rất tai hại cho nhà cầm quyền dù cho các cuộc biểu tình này hoàn toàn tự phát và không hề có tổ chức.
  Thời điểm ấy những sinh viên năm cuối đã bảo vệ luận văn hoặc thi tốt nghiệp xong, chỉ chờ ngày nhận bằng và bắt đầu kiếm việc làm. Đó cũng là thời điểm mà các em cấp III vừa thi đại học xong. Thế là có cảnh anh em đồng hương đứa lớn vừa học đại học xong chuẩn bị rời thành phố về quê dẫn tụi nhỏ “Hai Lúa” lần dầu về Saigon đi chơi, giới thiệu quang cảnh Hòn Ngọc Viễn Đông cho các em mình.
 Trích Quyền Bính:
  Cuộc biểu tình thứ hai nổ ra gần một tháng sau giữa sinh viên và bảo vệ Công viên Kỳ Hoà. Sự việc bắt đầu cũng khá đơn giản: Cuối giờ chiều ngày 6-7-1989, năm sinh viên ký túc xá Ngô Gia Tự và một số học sinh lên Thành phố dự thi đang chơi ngoài bãi cỏ Công viên Kỳ Hoà thì trời đổ mưa đột ngột. Họ cùng với những người khách khác chạy vào trú mưa dưới mái hiên Nhà kính dị dạng. Ít phút sau, bảo vệ công viên đi qua nhìn thấy một tấm kính bị vỡ nên đã mời số sinh viên này lên phòng Ban Giám đốc giải quyết. Hai bên đôi co, người bảo vệ phát hiện tấm kính vỡ đã đánh một sinh viên dập sống mũi. Một sinh viên khác liền chạy về ký túc xá Ngô Gia Tự thông báo. Một số sinh viên, trong đó có Ban Quản lý Ký túc xá đã đến Công viên Kỳ Hoà yêu cầu lập biên bản.

Cuộc làm việc chưa đi tới đâu thì bảo vệ Kỳ Hoà cho thả chó bẹc-giê ra cắn hai sinh viên bị thương. Số sinh viên đang đứng đợi dưới nhà, kêu lên: “Không đàm phán nữa, về kêu sinh viên ra đập chết chó đi”. Một thành viên trong Ban Tự quản Sinh viên trực tiếp thảo “lời kêu gọi” rồi đọc trên hệ thống loa phóng thanh của ký túc xá Ngô Gia Tự. Hơn 600 sinh viên, trong đó gồm cả sinh viên ở ký túc xá Nguyễn Chí Thanh, nghe tin cũng kéo theo, trực chỉ Hồ Kỳ Hoà. Ban Giám đốc Công viên bỏ chạy. Bảo vệ chối không có chó. Sinh viên bắt phải tìm ra con chó thủ phạm đã cắn sinh viên. Sẵn cừ tràm của một công trình đang xây dựng trong Kỳ Hoà, sinh viên bẻ cừ, đập chết con chó đồng thời làm hư hỏng thêm một số đồ vật khác.(Hết Trích)
 
   Tối 06/07/1989, như thường lệ sinh viên sau khi ăn tối thì tự học ở  phòng học hay giải trí đàn hát ở sân KTX. Khoảng 7 giờ, đột ngột, hệ thống loa phóng thanh của KTX phát ra lời thông báo sinh viên bị đánh đập và chó cắn ở Hồ Kỳ Hòa, yêu cầu mọi người đến đó hỗ trợ cứu bạn. Ngay lập tức sinh viên ơi ới gọi nhau. Các bạn nữ sinh viên không kịp thay đồ, mặc cả đồ bộ-dép lê chạy đi. Đến trước cổng Kỳ Hòa, hàng 500-600 nam nữ sinh viên đứng chen chúc trước cánh cổng khép kín. Bên trong hàng rào mấy người bảo vệ (bộ đội phục viên, thương binh) vẫn còn cầm dây dắt hai con berger sủa ầm ĩ. Hỏi han nhau thì biết là đại diện sinh viên đang làm việc với quản lý Công viên Kỳ Hòa. Số lượng sinh viên tập trung ngày càng đông và sự giận dữ mỗi lúc một tăng. Kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ nữa vẫn không thấy đại diện sinh viên trở ra. Mọi người đồng thanh hô to “Thả người! Thả người!” vang dội khắp cả khu vực. Lúc này thì bảo vệ công viên biến mất cùng với mấy con chó. Không có bất cứ hồi đáp nào từ trong văn phòng. Có bạn leo lên cửa sắt hô to vào bên trong “Thả người!” Thế rồi nhiều người khác leo lên, và leo qua cổng kéo chốt cài mở toang cổng cho lực lượng sinh viên tràn vào. Không thấy bất kỳ một nhân viên nào của công viên Kỳ Hòa trong khuôn viên. Bỗng nhiên lại nghe thấy tiếng chó sủa trong mấy căn phòng đóng kín kề với nhà bếp của nhà hàng.  Ai đó la lên rằng “Mấy con chó này cắn sinh viên đó!” Thế là giận cá chém thớt, các bạn mình người thì lột mấy cái mùng của bảo vệ gần đó, kẻ tìm gậy gộc rồi nhất loạt xông vào mấy căn phòng nhốt chó dùng mùng túm chúng lại rồi đập. Tội nghiệp hai con chó berger chỉ biết nghe lời chủ mà chết thảm. Trong cuộc “xung phong” đó có người đập phá cửa kính, tô-chén-dĩa của nhà hàng. Ngay lúc đó, chúng tôi phát hiện một số người không phải sinh viên mà là người đạp xe xích lô và thanh niên sống trong khu vực lân cận nhân cơ hội này lao vào đập phá và hôi của. Anh em túm họ lại la lên “Mấy thằng này không phải sinh viên” rồi đẩy họ ra khỏi cổng sắt, thu đồ họ “hôi của” (nồi chảo inox, đồ ăn) quăng trả trở lại nhà bếp. Nếu Ban Giám Đốc CV Kỳ Hòa đừng bỏ trốn, thực tâm đối thoại thì đã không có cảnh bức xúc không thể kềm chế. Bọn sinh viên chúng tôi lúc đó cảm thấy bị xúc phạm, bị khinh thường và nhất là bị họ (Ban Giám Đốc) lừa, xem như con nít.
  Chuyện dĩ nhiên không thể dừng lại ở đó.
 Ngay ngày hôm sau 07/07/1989 Ban Tự Quản Sinh Viên đã tổ chức họp để rút kinh nghiệm với hơn chục người đại diện cho các trường, khoa khác nhau đang sống trong KTX. Nhóm chủ chốt này có hơn mười người hầu hết là sinh viên năm cuối các trường. Bọn sinh viên chúng tôi thì say sưa với hai kết quả thắng lợi bước đầu đó, có người còn mơ làm một Thiên An Môn của Việt Nam ngay tại Saigon. Tinh thần mọi người lên rất cao. Các cuộc họp bàn công khai diễn ra liên tục trong các ngày sau đó tại phòng của Ban Tự Quản Sinh Viên, và Nguyễn Sơn Thủy Hùng tự nhiên được mọi người ngầm coi là thủ lĩnh cầm chịch. Ban Tự Quản Sinh Viên có một máy đánh chữ vốn dùng để soạn thảo văn bản thì nay được dùng để thảo thư kêu gọi, thông báo… Ai cũng biết vụ Hồ Kỳ Hòa là chỉ là nguyên cớ trực tiếp thổi bùng ngọn lửa bất mãn đã âm ỉ trong tâm thức của tầng lớp trí thức trẻ trước vận mệnh nước nhà.
 Trích Quyền Bính:
Sinh viên vẫn đang sùng sục thì sáng ngày 9-7-1989, báo Sài Gòn Giải Phóng cho đăng “Thông báo của Uỷ ban Nhân dân Quận 10”, đưa kết luận cuộc họp ngày 7-7-1989 theo hướng bào chữa cho bảo vệ Kỳ Hoà. Ví dụ, sự kiện thả chó, được nói: “Theo thông lệ, sau khi đóng cổng nhân viên trật tự đã thả chó ra trong vòng rào công viên. Không may có thanh niên trong số đông còn tụ tập sát cổng khu vực Kỳ Hoà II đã bị một con chó cào xước nhẹ”. Cũng theo Thông báo: “Nhiều tốp sinh viên ở ký túc xá Ngô Gia Tự, do nghe tin thổi phồng về tình hình xô xát đã kéo thêm đến công viên Kỳ Hoà. Một số ít thanh niên trong các tốp đó đã xông vào đập phá gây thiệt hại về tài sản cho cả các cơ sở trong hai khu vực Kỳ Hoà I & II”. Thông báo nói rằng: “Cuộc họp đã kiến nghị điều tra, xử lý nhanh chóng và nghiêm minh những người gây ra xô xát và đập phá tài sản công cộng”. Số tiền mà Kỳ Hoà dự kiến đòi sinh viên bồi thường lên tới sáu mươi triệu đồng.

Ngay sáng chủ nhật, 9-7-1989, hàng trăm sinh viên đã kéo tới Toà soạn báo Sài Gòn Giải Phóng yêu cầu đính chính. Sài Gòn Giải Phóng không chịu, từ đường Nguyễn Thị Minh Khai, sinh viên kéo ra đường Lê Thánh Tôn, đến trước trụ sở Uỷ ban Nhân dân Thành phố. Không chỉ có ký túc xá Ngô Gia Tự, sinh viên từ các ký túc xá Trần Hưng Đạo, Nguyễn Chí Thanh và từ Thủ Đức cũng lần lượt kéo lên. Cảnh sát phải chặn sinh viên từ Thủ Đức lên ở bên kia cầu Sài Gòn. Ngay trong ngày 9-7-1989, chính quyền đã dùng biện pháp mạnh, bắt bốn người trong Ban Tự quản Sinh viên: Phạm Văn Chiến, Nguyễn Văn Tấn, Nguyễn Phong Thanh và Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng. Đồng thời, để xoa dịu tình hình, hai bảo vệ của Công viên Kỳ Hoà cũng bị bắt.

Ngày 12-7-1989, báo Sài Gòn Giải Phóng “gặp Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nguyễn Văn Bông”. Phát biểu của ông Bông cho dù vẫn với thái độ “xử lý nghiêm minh” nhưng lời lẽ rõ ràng là “nói lại cho rõ” những gì đăng trên tờ báo này hôm chủ nhật. Thay vì nói “mũi của một sinh viên bị xây xát nhẹ”, ông Bông nói rõ: “Bảo vệ Dương Quang Hiệp của Công viên Kỳ Hoà đã đánh học sinh Phạm Hữu Nghị gây thương tích ở sống mũi”. Về vụ chó bẹc-giê cắn sinh viên, ông Bông nói: “Đội phó bảo vệ Nguyễn Văn Lâm đã thả chó ra, chó cắn hai học sinh bị thương. Theo quy định của Hồ Kỳ Hoà, chỉ khi không còn khách mới được thả chó ra để bảo vệ”.

Nguyễn Sơn Thuỷ Hùng nhớ lại: “Khoảng bốn giờ chiều ngày 9-7-1989, chúng tôi được mời lên công an thành phố. Với sự chứng kiến của thầy hiệu phó và thầy Lý Chánh Trung họ đọc lệnh bắt, đưa lên xe u-oát chở về 3C Tôn Đức Thắng”. Lệnh bắt nói là “tạm giam bốn tháng” nhưng, người bị giữ lâu nhất là mười ngày, còn ba người còn lại chỉ bị giữ một tuần rồi cho về. Giám đốc Sở Công an, Đại tá Nguyễn Hữu Khương đã gặp bốn sinh viên ngay sau khi họ được thả ra. Ông Khương huấn dụ: “Luật không cấm các em biểu tình, nhưng biểu tình thế là nguy hiểm, là không kiểm soát được tình hình. Các em chớ dại”. (Hết trích).

    Cuộc biểu tình diễn ra không phải vào buổi sáng mà vào tối ngày Chúa nhật 09/07/1989.
    Sáng 09/07/1989, báo SGGP đăng tin. Lập tức KTX Ngô Gia Tự sôi lên như chảo  dầu. Ai cũng giận dữ đòi báo SGGP phải đính chính.
    Khoảng 06 giờ tối thì sinh viên bắt đầu tụ tập mỗi lúc một đông ở sân bóng chuyền cạnh nhà ăn. Bất ngờ hệ thống loa phóng thanh của KTX vang lên lời kêu gọi đại ý: chúng ta đã không làm gì sai chỉ bảo vệ bạn mình bị tấn công ở Hồ Kỳ Hòa. Nay báo SGGP nói sai về sự kiện đó, chúng ta hãy đến tòa soạn báo SGGP yêu cầu họ phải đính chính và xin lỗi sinh viên KTX Ngô Gia Tự.
   Thế là ồn ào như đàn ong vỡ tổ. Rồi tất cả ùn ùn tuôn ra cửa kéo đến trụ sở báo SGGP ở đường Xô Viết Nghệ Tĩnh đối diện bệnh viện Từ Dũ. Lúc bắt đầu bọn tôi không ai nghĩ đó là một cuộc biểu tình gì cả. Chúng tôi kéo nhau đi như đi hội. Có người còn dắt theo cả xe đạp để … sau khi tan hàng đạp về cho nhanh!
   Từ KTX Ngô Gia Tự, chúng tôi băng qua bùng binh Ngã Sáu rồi vào đường Nguyễn Chí Thanh. Ở đây chúng tôi đứng dưới đường hô vọng lên kêu gọi sinh viên KTX Nguyễn Chí Thanh tham gia… cho vui. (KTX Nguyễn Chí Thanh gồm sinh viên sư phạm, hệ B Tổng Hợp và sinh viên dự bị). Thế là có thêm hàng trăm người tham gia vào đoàn để biểu thị tình đoàn kết sinh viên.
   Hết Nguyễn Chí Thanh, chúng tôi ra đường Trần Phú rồi đến Ngã sáu Cộng Hòa. Thế là đã đến trước tòa soạn SGGP. Chúng tôi đứng tràn ra cả lòng đường trước tòa soạn và la to đòi báo SGGP đính chính tin tầm bậy. Chỉ là tự phát chứ có ai tổ chức đâu. Hô chán, rồi có người bắt nhịp hát “Dậy Mà Đi”, “Lên Đường” rồi cả “Tiểu đoàn 307”. Kéo dài đến 10 giờ đêm, chẳng có đại diện nào của báo SGGP thò đầu ra nói lời phải trái. Chỉ có công an làm hàng rào chặn ngang đoạn đường XVNT hướng về trung tâm thành phố.
   Bọn chúng tôi tụm năm tụm ba thành từng nhóm lố nhố trước tòa soạn không biết phải làm gì tiếp theo. Thế rồi một một chú mặc đồ thường phục dáng to ngang, được hộ tống bởi một vài anh cũng mặc thường phục mặt mày nghiêm trang lạnh lùng, len lỏi vào đám sinh viên chúng tôi. Ông này nói đại khái : Thôi về đi, lo học hành đừng làm rối nữa. Có bạn nóng máu quát lại rằng : Ông là ai mà nói tụi tui làm rối? Tụi tui chỉ đòi công bằng thôi! Anh lính hộ tống trợn mắt vặc lại: Thủ trưởng của tôi nói đàng hoàng mấy anh không nghe thì lãnh hậu quả đó. Nghe cãi nhau, sinh viên bu lại. Thấy không êm mấy thầy trò ông này lẳng lặng bỏ đi. Sau này tôi mới biết đó là Nguyễn Hữu Khương, Giám đốc Công an TPHCM.
  Đến khoảng 10 giờ, mọi người bắt đầu sốt ruột. Có ai đó bảo: Họ (báo SGGP) không nghe tụi mình thì tụi mình lên cấp cao hơn. Rồi có tiếng hưởng ứng: Ừ kéo lên Ủy Ban đi! thế là rùng rùng kéo nhau đi tiếp.
   Chúng tôi theo đường Cao Thắng băng qua Nguyễn Trãi rồi nhắm hướng KTX Trần Hưng Đạo mà tiến. Lúc này lực lượng đã bị hao hụt một nửa vì có bạn đã trở về KTX Ngô Gia Tự để sáng mai đi học. Khi đến KTX Trần Hưng Đạo chúng tôi được các bạn ở đó hoan hô vang dội từ… trên các tầng lầu. Cửa lưới sắt ra vào KTX đã bị kéo kín và khóa rất nhiều khóa. Đứng án ngữ ngay bên trong cửa sắt là Hiệu trưởng Đại Học Kinh Tế (hình như là Đào Công Tiến) với sự hổ trợ của lực lượng bảo vệ dữ dằn. Thế thì có cho kẹo các bạn sinh viên ở đây cũng chả dám xông ra, vì hơn 2/3 sinh viên ở đây là sinh viên ĐH Kinh tế.    
   Chúng tôi đứng dưới lòng đường hô vọng lên kêu gọi KTX Trần Hưng Đạo hổ trợ. Bên trên các bạn cũng la to “Ủng hộ Ngô Gia Tự. Hoan hô Ngô Gia Tự.” Nhưng không một ai có thể ra gia nhập với chúng tôi.
    Lúc này đã hơn 11 giờ đêm. Thế là chúng tôi lại đi tiếp. Băng qua chợ Bến Thành, vào đường Lê Lợi để hướng đến trụ sở Ủy Ban Nhân Dân TPHCM. Đoàn người lúc này chỉ còn trên dưới 200. Vẫn có bạn dắt xe đạp hồn nhiên đi lẫn trong hàng. Đến bùng binh Lê Lợi-Nguyễn Huệ lực lượng công an đã bố trí sẵn sàng và chặn chúng tôi lại.
   Thời ấy, con đường Lê Lợi còn có một hàng rào sắt phân đôi hai tuyến trái phải của làn xe hơi chính giữa. Hàng trăm công an đứng dọc theo hàng rào này chặn không cho chúng tôi tràn qua phía rạp Rex. Bên cánh đối diện cũng có hàng trăm công an với khiên mây và dùi cui đứng ken dầy không cho chúng tôi dạt vào lề đường phía Cửa hàng Bách Hóa Tổng Hợp (Thương xá Tax). Còn ngay đầu bùng binh, công an với khiên mây , nón sắt cũng chen chúc như cá mòi. Thế là chúng tôi bị chặn cả 3 phía chỉ trống có sau lưng.
   Vốn dĩ là một cuộc tuần hành tự phát nhưng vì áp lực ngày một tăng từ phía nhà cầm quyền nên sự phản ứng của sinh viên cũng tương ứng với sức ép của họ. Chúng tôi đứng lỳ ra đó nhất quyết không chịu quay về nếu báo SGGP không ra mặt xin lỗi. Trong hàng ngũ sinh viên có bạn bắt nhịp cho các bạn mình hát Dậy Mà Đi, rồi lại đồng thanh hô to yêu cầu báo SGGP cải chính. Lực lượng công an chỉ án binh bất động, có lẽ chờ cho chúng tôi mệt mỏi tự giải tán.
  Thế nhưng họ lầm!
  Càng khuya chúng tôi hát hò, hô khẩu hiệu càng hăng.
  Đến Ba giờ sáng. đột ngột từ bùng binh một công an cầm loa lên tiếng yêu cầu sinh viên giải tán nếu không lực lượng công an sẽ dùng biện pháp mạnh. Họ cho chúng tôi 05 phút để tự giải tán.
   Sinh viên vẫn không quay đầu, không lùi bước. Các bạn nữ ĐH Tài Chính còn chen lên đứng ở hàng đầu bảo với công an rằng chúng tôi chỉ yêu cầu xin lỗi là về thôi.
   Hết 5 phút, tên cầm loa lại nói: Yêu cầu sinh viên giải tán! Tôi đếm đến 10 đấy!
    Hắn đếm.
   Vừa dứt tiếng “Mười” của hắn, đột nhiên lực lượng công an cầm khiên mây dạt ra hai bên để cho một lực lượng nãy giờ ém kỹ phía sau tràn lên. Bọn này hung hãn xông vào đám sinh viên chúng tôi, những kẻ tay không ốm yếu, như là xung trận với kẻ thù của nhân dân. Tên nào cũng to khỏe và đặc biệt là mỗi tên cầm một cây roi điện dài gần cả mét phụt ngọn lửa điện xanh lè đến hơn 3 tấc cùng với những âm thanh có tần số quái dị làm tê liệt ý chí con người. Thế là bọn hung thần tung hoành. Các bạn nữ sinh viên đứng ở hàng đầu bị roi điện chích té lăn xuống đường bất tỉnh. Những người ở phía trước bỏ chạy thì vấp vào các chiếc xe đạp một số bạn dắt theo trong hàng té lỏng chỏng. Tha hồ cho bọn hung thần thong thả chích điện từng người lăn quay. Tôi cũng bị một nhát vào bắp tay, lăn đùng ra mặt đường không thể nào đứng dậy nổi, cánh tay cả tháng sau vẫn còn tê còn vết sém do lửa điện mấy năm sau vẫn chưa hết.
   Chỉ trong vòng 5 phút, lực lượng hàng ngàn công an vinh quang vũ trang đến tận răng của thành phố mang tên Bác đã đè bẹp 200 sinh viên ốm đói đòi công bằng bằng mồm. Chúng tôi thất thểu ra về. Trời đã rạng sáng. Dọc đường, xe công an hú còi ầm ĩ chạy vòng quanh các tuyến đường trung tâm để thị uy, mỗi khi chạy ngang qua nhóm sinh viên nào thì bọn hung thần cũng nhứ dùi cui điện phụt lửa xanh lè ra hù dọa.
    Cuộc tuần hành của sinh viên KTX Ngô Gia Tự thất bại. Là thất bại đầu tiên của sinh viên Saigon. Cho đến khi ấy, các cuộc biểu tình của KTX Trần Hưng Đạo và Bách Khoa luôn luôn thắng lợi (Bách Khoa còn biểu tình trước cả Trần Hưng Đạo và “gấu” hơn nhưng ít ai nhắc đến). Chúng tôi thất bại vì không có tổ chức, không lường được công an trấn áp như thế (chắc học kinh nghiệm từ Đặng Tiểu Bình đàn áp Thiên An Môn) và nhất là bất ngờ vì vũ khí hiện đại của công an: Roi Điện.
   Nhưng chúng tôi vẫn chưa chịu thua.
  Ngay sáng hôm đó, thư ký của Ban Tự Quản đã dùng máy đánh chữ thảo lời kêu gọi rồi anh em chia nhau đi KTX các trường ĐH Pháp Lý Bình Triệu- Nông Lâm- Sư Phạm Kỹ Thuật ở Thủ Đức, Bách Khoa ở Q.10 (rất gần với Ngô Gia Tự) hẹn nhau tụ họp tuần hành để phản đối công an đàn áp sinh viên.
   Chiều hôm ấy, Nguyễn Sơn Thủy Hùng và Ban Tự Quản Sinh Viên KTX NGô Gia Tự bị bắt nguội.
    Tối hôm đó (10/09/1989) các chiếc xe chở sinh viên từ Thủ Đức về của ĐH Nông Lâm, Sư Phạm Kỹ Thuật, Pháp Lý bị chặn ở cầu Saigon, cầu Bình Triệu và cầu Bình Lợi. Lực lượng công an ép các tài xế phải quay đầu.
   Lực lượng sinh viên Bách Khoa bị hơn tiểu đoàn công an chặn ở ngay cổng, không thể ra ngoài đành lên lầu cao lấy chai lọ vật cứng ném như mưa xuống bọn chó săn.
   Ở KTX Ngô Gia Tự, hàng tiểu đoàn công an khóa chặt cổng và áp sát hàng rào. Có anh em sinh viên leo lên cổng hoặc hàng rào hô to phản đối là lập tức bị mưa dùi cui quật té vào trong.
    Một lần nữa bạo lực cách mạng lại thắng mấy chàng thư sinh trói gà không chặt.
    Chúng tôi đành chịu thua khi Ban Quản Lý KTX ra lệnh không cho phép sinh viên các lớp đã tốt nghiệp được ở lại KTX như thông lệ các năm trước. Còn sinh viên các lớp dưới phải về quê nghỉ hè lập tức. Thế là tan hàng. KTX Ngô Gia Tự lập tức vắng như chùa bà Đanh.
    Nguyễn Sơn Thủy Hùng bị treo bằng tốt nghiệp, còn các sinh viên khác ở trường Y, Dược trong Ban Tự Quản bị lưu ban 1-2 năm, có người bị đuổi học.
   Có lẽ sự kiện này và tinh thần của sinh viên Saigon đã vọng đến tai ông Trần Xuân Bách dẫn đến việc ông chọn KTX Ngô Gia Tự để nói chuyện với sinh viên Saigon chỉ 02 tháng sau khi sự kiện này xảy ra. Tác giả Huy Đức  viết là “Còn một cuộc nói chuyện công khai nữa của ông Bách ở Ký túc xá Ngô Gia Tự, Sài Gòn, thì ngay cả những người giúp việc cũng không biết đến. Theo ông Kiều Xuân Long, vụ phó Vụ Công tác phía Nam của Ban Khoa giáo Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh, người đưa ông Trần Xuân Bách xuống Ký túc xá Ngô Gia Tự: “Chuyến đi của ông Trần Xuân Bách làm cho Thành uỷ và nhiều người không thích. Về sau ông Bách bị quy kết là đã thực hiện mục đích lôi kéo sinh viên”. Tiếc là ông đến quá muộn! Lớp sinh viên máu lửa hầu hết đã ra khỏi KTX và lực lượng công an vinh quang đã hoàn thành công tác ngăn ngừa bạo loạn trong sinh viên. Kể từ đó, không ai còn thấy có bất kỳ vụ sinh viên Saigon phản kháng nào nữa.       

    24 năm đã trôi qua. Xin cám ơn tác giả Huy Đức đã giúp tôi nhớ lại kỷ niệm đẹp những ngày cuối cùng của tôi ở Đại học, một trong những kỷ niệm đẹp nhất của thời sinh viên. Chúng tôi đã thua, nhưng không thất bại. Vì chúng tôi đã tỏ rõ cho nhà cầm quyền biết rằng: sinh viên là những người quý trọng sự công bằng và không hãi sợ cường quyền. Sinh viên sẽ mãi là lực lượng tiên phong đi đầu trong các cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng, đòi dân chủ và các quyền mà Tạo Hóa đã ban cho con người.

   Rằm tháng Giêng năm con Rắn
      24/02/2013
    PTN –Cựu sinh viên đã ở KTX Ngô Gia Tự năm 1989
(Bài này kể lại theo góc nhìn chủ quan của tác giả như là người trong cuộc của một bạn gửi đến nhờ đăng. Xin các bạn sinh viên đã từng tham gia vào sự kiện này cung cấp thêm cái nhìn của các bạn. Có thể sẽ khác, rất khác hay ngược lại hoàn toàn cái nhìn của tác giả. Trân trọng.
  Tác giả cũng đã tự nhận trước là bài này ăn theo Bên Thắng Cuộc, để đỡ mất công các “dư luận viên” bươi móc…hi hi)

CẬP NHẬT:

Ba Láp đã nói


Nguyễn Phú chắc là có bạn sinh viên ở Bách Khoa! Năm 1989, mình học năm thứ nhất ĐH Bách Khoa và tham gia đầy đủ các cuộc biểu tình ở Bách Khoa. Vụ biểu tình của SV ở KTX Ngô Gia Tự và Trần Hưng Đạo thì mình có mấy đứa bạn học KT ở bên đó nên thường xuyên được cập nhật.
Các cuộc biểu tình của SV Bách Khoa vào lúc đó có hơi hướng “tổ chức” và chính trị cho nên được CA “chiếu cố”. Một lúc SV phải chia thành nhiều nhóm đi vào các con hẻm vì các đường lớn bị chặn. Mình nhớ là nhóm mình bị chặn tại một con hẻm vào lúc khoảng 8 giờ tối, với một lực lượng cảnh sát cơ động rất đông đứng ở đằng sau. Phía trước là thành phần “chính uỷ” thuyết phục SV đại khái “lo học hành đừng có dính với chính trị”, lúc đó chưa chế ra câu “có Đảng và Nhà Nước no!”. Nhóm mình bị đẩy về và vào bên trong KTX. Đúng như Nguyễn Phú nói là có một tiểu đoàn CA bao vây xung quanh KTX Bách Khoa và những gì đã xảy sau đó thì mình còn nhớ rõ. Các kế hoạch xách nhiễu SV Bách Khoa sau đó không có kết quả vì không biết ai là những “kẻ cầm đầu”. Vào thời điểm đó thì CS kiểm soát XH rất chặt và sự bưng bít thông tin rất là cao, chỉ biết thông tin thế giới qua “đài địch”. Đứa nào biết tiếng Anh thì nghe BBC Service rồi thuật lại, khó bị phát giác là nghe đài địch, chỉ nói là học tiếng Anh.
Trong nhóm SV biểu tình ở Bách Khoa mình được biết thì cũng có nhiều thằng bạn có “máu chính trị” muốn làm một “Thiên An Môn VN”! Hồi tưởng lại thì lúc ấy không sợ, một phần là sự “lãng mạng chính trị” của tuổi trẻ!
Một cựu SV Bách Khoa.

Dân đen SG đã nói

Hê hê, ngày đó tôi là một thành viên trong đoàn biểu tình của SV ký túc xá 135 Trần Hưng Đạo. Ký túc xá THĐ là nơi biểu tình đầu tiên, xuất phát từ việc mấy tên công an phường Nguyễn cư Trinh đánh SV. Khoảng 7h tối, sau khi lật xe jeep và đập nát cửa trụ sở công an phường, đoàn biểu tình đi ngang qua KTX và thu hút hầu như toàn bộ SV ở đây, khoảng 1500 SV gồm các trường kinh tế, dược, sư phạm, nghệ thuật sân khấu. Đoàn biểu tình đã tiến thẳng về trụ sở UBND TP hô vang khẩu hiệu đả đảo chế độ thối nát, kém hiệu quả. Khi tới ngay sát cửa UBND TP, chính quyền đã huy động khoảng 1 trung đội tay lăm lăm súng chỉa vào đoàn SV. Bên ngoài khoảng hơn một tiểu đoàn công an, quân đội phong tỏa toàn bộ khu vực trung tâm từ chợ Bến thành.
Trước khí thế và sự Đông đảo của đoàn biểu tình, đám công an cầm súng đã sợ hãi lùi sát vào chân tường. Một chàng công an do quá sợ hãi đã cướp cò súng, nổ một viên đạn. Sau khoảng 5 giây chết lặng sững sờ đoàn biểu tình đã phẫn nộ tiến lên đòi giết anh công an này. Anh công an chỉ huy bèn giơ tay tát một phát như búa bổ vào mặt người công an lỡ cướp cò rồi rối rít xin lỗi. Sau đó, theo yêu cầu của SV một ông Phó chủ tịch UBND TP HCM đã đứng ngay trên bậc thềm trụ sở UB xin lỗi và hứa sẽ giải quyết các yêu sách của SV, trong đó có yêu cầu về dân chủ.
Nhưng hoá ra đây là một quả lừa. Sau đó là cuộc biểu tình của KTX Bách khoa và Ngô gia Tự và đã bị đàn áp …
Nay những SV biểu tình ngày nào theo tôi được biết vẫn luôn sục sôi tinh thần yêu nước, yêu tự do dân chủ và đang ẩn mình chờ đợi thời cơ tiến lên vì giá trị của độc lập tự do Chánh hiệu.
Tất cả vẫn đang dõi theo và ủng hộ những bậc cha chú như giáo sư Tương Lai, Lê Hiếu Đằng …

Thứ Bảy, 16 tháng 2, 2013

TƯỞNG NIỆM NGÀY 17 THÁNG 2




“Tưởng nhớ những người con yêu của Tổ quốc đã ngã xuống trong các cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung Quốc tại Biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, tại Hoàng Sa và  Trường Sa“. 
"Đời đời nhớ ơn các liệt sĩ đã bỏ mình trong các cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược."

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

XIN ĐỪNG QUÊN NGÀY QUỐC HẬN 19-01-1974!

NGÀY 19/01/1974 TRUNG CỘNG ĐÃ DÙNG VŨ LỰC CƯỠNG CHIẾM QUẦN ĐẢO HOÀNG SA CỦA VIỆT NAM CHÚNG TA.



LÀ CON DÂN VIỆT NAM, CHÚNG TA HÃY ĐỪNG BAO GIỜ QUÊN MỐI QUỐC HẬN NÀY CHO ĐẾN KHI NÀO GIÀNH LẠI ĐƯỢC QUẦN ĐẢO THIÊNG LIÊNG ĐÃ THẤM MÁU NHỮNG ANH HÙNG TỬ SĨ!

XIN HÃY DÀNH MỘT PHÚT MẶC NIỆM NHỮNG ANH HÙNG VỊ QUỐC VONG THÂN!
                                           (NP)




XIN MỜI ĐỌC LẠI CÁC BÀI VIẾT VỀ TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA 19/01/1974:


Cập nhật:

Tuyên bố năm 1974 của Việt Nam Cộng Hoà
Nhiệm vụ cao cả và cần thiết của một chính phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cương quyết thi hành nhiệm vụ này, bất kể những khó khăn có thể sẽ gặp phải và bất kể những cáo buộc vô căn cứ có thể sẽ đến bất cứ từ đâu.
Trước sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Cộng bằng quân sự trên Quần đảo Hoàng Sa, nguyên là một phần đất thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà xét thấy cần thiết phải long trọng tuyên bố trước công luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:
Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần không thể cắt rời của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và bác bỏ tất cả hoặc một phần chủ quyền của họ trên những quần đảo này.
Chừng nào mà bất cứ một hòn đảo nào của phần lãnh thổ đó của Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị một nước khác chiếm đóng bằng bạo lực, thì Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục tranh đấu để lấy lại quyền lợi hợp pháp của mình.

Kẻ chiếm đóng bất hợp pháp sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bất cứ tình trạng căng thẳng nào bắt nguồn từ đó.
Nhân cơ hội này, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi miền Trung và Nam phần Việt Nam, đã luôn luôn được chấp nhận như một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên căn bản không thể chối cãi được về địa lý, lịch sử, chứng cứ hợp pháp và bởi vì những điều thực tế.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những quần đảo này bằng tất cả mọi phương tiện. Ðể gìn giữ truyền thống tôn trọng hoà bình, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết, bằng sự thương lượng, về các tranh chấp quốc tế có thể bắt nguồn từ các quần đảo đó, nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ từ bỏ chủ quyền của mình trên bất cứ phần lãnh thổ nào của quốc gia.
(Tuyên bố bởi Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 14 tháng 2 năm 1974)


Trận Hải Chiến Hoàng Sa - Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

Tác giả: Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại

Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại trên đảo Pattle (Quần đảo Hoàng Sa)
(Trích từ chương 16 : Trận Hải Chiến Hoàng Sa, trong tác phẩm "Can Trường Chiến Bại của Hồ Văn Kỳ Thoại, cựu Phó Đề Đốc Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà.)
Trích lời Ghi Chú : ... Một trang sử rất hào hùng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đã được viết bằng xương bằng máu của gần trăm chiến sĩ áo trắng thi hành đúng chỉ thị của vị Tổng Tư Lịnh Quân Ðội cũng là vị nguyên thủ của Việt Nam Cộng Hoà, để chứng tỏ chủ quyền của lãnh thổ Việt Nam, không có áp lực thúc đẩy hay ngăn cản một ngoại bang nào.

Trang chính của báo Chính Luận đăng tin về Hoàng Sa. (Hình góc tay mặt là Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, Hạm Trưởng chiếc HQ 10 Nhựt Tảo, tử trận trong cuộc hải chiến Hoàng Sa)
... Ðúng 8 giờ sáng hôm sau, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn, gồm có Trung Tướng Lê Nguyên Khang, Tổng Tham Mưu Phó; Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lịnh Quân Ðoàn I; Chuẩn tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, đến bộ tư lịnh Vùng 1 Duyên Hải bằng xe. Tôi đưa tất cả vào phòng thuyết trình. Tôi trình bày cặn kẽ địa hình địa thế của các đảo Hoàng Sa, lịch sử của các hải đảo này và sau cùng những diễn tiến trong mấy ngày qua và lực lượng quân sự TC và Việt Nam trên biển cũng như trên các đảo. Tôi nhấn mạnh việc chiến hạm Việt Nam cố gắng mời chiến hạm TC rời khỏi lãnh hải một cách ôn hoà nhưng tình hình trong 24 giờ qua cho thấy TC có ý định khiêu khích.
Sau khi nghe tôi trình bày xong, Tổng Thống Thiệu lấy bút giấy ra viết liên tục trong khoảng mười lăm phút. Sau khi viết xong, ông gọi tôi đến trước mặt ông và yêu cầu tôi đọc mấy trang giấy đó. Tổng Thống Thiệu nói : "Anh Thoại đến đây và đọc trước mặt tôi đây, có gì không rõ ràng cho tôi biết ngay từ bây giờ" (1). Trên đầu trang giấy có mấy chữ "Chỉ thị cho Tư Lịnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải." Những chữ này làm tôi hơi khó chịu vì ông Thiệu không ghi Tư Lịnh Quân Khu I hay Tư Lịnh Hải Quân mà lại đề thẳng chức vụ của tôi. Lúc đó tôi không nghĩ ra rằng với chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, ông có toàn quyền chỉ thị trực tiếp mỗi đơn vị trưởng trong quân đội. Trong trang chót có đoạn "Chỉ thị cho Thủ Tướng Chánh Phủ". Bản chánh của thủ bút Tổng Thống Thiệu tôi giữ mãi cho đến đầu tháng Năm, 1975, khi tôi bi mất cắp chiếc cặp lúc đến Fort Chaffee ở Arkansas, Hoa Kỳ (2). Tôi chắc chắn bản gởi cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm vẫn còn được lưu lại đâu đó sau khi Sài Gòn thất thủ.
Sau khi trao thủ bút cho tôi, Tổng Thống Thiệu hỏi các vị tướng lãnh bộ binh hiện diện có ý kiến gì không. Không ai trả lời. Ông nói tiếp : "Chúng ta không để mất một tấc đất nào cả (3)".

TT Thiệu rời Bộ Tư Lịnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải, sau khi ra chỉ thị về biện pháp đối phó với TC khi hạm đội TC xâm nhập hải phận Việt Nam Công Hoà tại Hoàng Sa (1974).
Tôi cảm thấy là không còn giải pháp nào khác, hoặc tấn công trước hoặc rời khỏi lãnh hải của mình để tránh đụng chạm. Lúc ấy tôi lại nghĩ ngay thủ bút của Tổng Thống. Nếu rời lãnh hải quốc gia (4) bỏ đi là lịnh Tổng Thống sẽ không được thi hành. Rồi tôi sẽ trả lời ra sao với thượng cấp ?
Tôi và Ðại Tá Ngạc bàn đi bàn lại nhưng không biết phải làm thế nào và rồi tôi chỉ nói với Ðại Tá Ngạc là khi tình hình quá căng thẳng thì mình phải khai hoả trước để giảm thiểu thiệt hại. Ðại Tá Ngạc đồng ý với tôi là chiến hạm Việt Nam phải khai hoả trước. Tôi nhắc thêm Ðại Tá Ngạc :
"Anh nhớ hãy chỉ thị cho tất cả chiến hạm khai hoả cùng một lúc khi anh bắt đầu khai hoả !" (5) với mục đích phân tán sự phản pháo của địch. Ðại Tá Ngạc trả lời : "Nhận rõ 5 trên 5". Tâm trạng bồi hồi, một cảm giác mà tôi không bao giờ quên, nhưng vì không rõ vị trí của từng chiến hạm, qua máy âm thoại, tôi nói tiếp : "Tuỳ nghi khai hoả khi nào anh sẵn sàng !" Vài phút sau tiếng nổ chát chúa của các hải pháo vang dội trong máy truyền tin, dường như Ðại Tá Ngạc hoặc nhân viên vô tuyến cố tình bấm nút "On" để tôi có thể nghe, làm tôi vừa hãnh diện cho Hải Quân Việt Nam vừa lo sợ cho Hải Ðội của Ðại Tá Ngạc. Giọng Ðại Tá Ngạc rất là bình tĩnh và nhà binh : "Báo cáo đã bắt đầu khai hoả !" Tôi trả lời ngay : "Tôi nghe tiếng súng rồi, anh Ngạc", và sau đó là một sự yên lặng trong khoảng năm mười phút nhưng đối với tôi nó kéo dài như hàng giờ.
... Trận hải chiến thật sự chỉ kéo dài hơn 30 phút. Khi phi cơ của Ðô Đốc Chơn và sĩ quan tuỳ viên của ông, Thiếu Tá Văn Trung Quân, chạm đất tại phi trường Ðà Nẵng thì trận hải chiến đã coi như kết thúc. Chiến hạm Việt Nam không đuổi theo tàu địch mà chiến hạm TC cũng không đuổi theo chiến hạm Việt Nam.
Tôi gọi điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân xin can thiệp với Cố Vấn Mỹ yêu cầu Ðệ Thất Hạm Ðội của Hoa Kỳ vớt các thủy thủ Việt Nam, nhưng dường như họ có được chỉ thị nên không một chiến hạm Mỹ nào đến gần nơi xảy ra cuộc hải chiến.
Với những đe doạ từ phía TC, sự không tham dự của quốc gia mà chúng ta gọi là "đồng minh", sự từ chối của Ðệ Thất Hạm Ðội Hoa Kỳ trong việc cứu người trôi trên biển, tôi cảm thấy ê chề, đau đớn cho các thủy thủ đang trôi trên biển với những vết thương mà máu ra sẽ là dấu hiệu cho cá mập và trong sự chán nản tột cùng, tôi chỉ thị các chiến hạm bị thiệt hại rời chiến trường để đưa các thủy thủ tử thương và thương binh lên bờ tại Ðà Nẵng.
Trớ trêu nhứt là 23 thủy thủ Việt Nam trôi dạt trên biển được tàu Skopionella của hãng Shell mang quốc kỳ Hoà Lan vớt, ngay sau trận hải chiến. Thương thuyền này đang trên đường từ Hong Kong đi Singapore. Trên tàu, các phu nhân của Thuyền Trưởng và Thuyền Phó chăm sóc các thủy thủ lâm nạn hết sức tận tình và tặng một số quà cho mỗi thủy thủ khi họ được thương thuyền giao lại cho đơn vị của Hải Ðội 1 Duyên Phòng thuộc Vùng 1 Duyên Hải. Lúc ấy các nhân viên Hải Quân tham chiến đặt câu hỏi ai là "đồng minh" của ai ?
Thế là kết thúc một sự xâm lăng bằng võ lực của một cường quốc đối với một quốc gia nhỏ bé.

Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ủy lạo các chiến sĩ can trường bị thương nặng sau trận hải chiến Hoàng Sa, trước khi họ được đưa lên phi cơ rời Ðà Nẵng để về Tổng Y Viện Cộng Hoà tại Sài Gòn.
... Sự hy sinh của các thủy thủ can trường vẫn còn là một bằng chứng bằng xương bằng máu để con cháu chúng ta tranh đấu trước toà án quốc tế để đòi hỏi TC phải giao trả các đảo này cho Việt Nam.
Ai là người Việt Nam cũng có quyền hãnh diện là trận hải chiến Hoàng Sa là một trận hải chiến duy nhất của Việt Nam và của thế kỷ, chống ngoại xâm, và bảy thế kỷ sau khi tướng Trần Hưng Ðạo đánh bại quân Mông Cổ từ phương Bắc, trên mặt nước.
Còn những ai nghĩ là Việt Nam Cộng Hoà còn lệ thuộc Mỹ phần nào thì đây là bằng chứng rõ rệt là việc tấn công lực lượng TC là hoàn toàn do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lịnh, không có sự đồng ý của Hoa Kỳ và không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ dù là nhân đạo tối thiểu như vớt người trôi trên biển cả.
Sau này rất nhiều sách vở báo chí bình luận về hải đảo Hoàng Sa và trận hải chiến và phê phán nhiều, kẻ kể công người buộc tội, riêng tôi thì chúng ta không nên quên là dù chúng ta có bốn thủy thủ đoàn can trường tham gia cuộc hải chiến nhưng các chiến hạm của ta vừa cũ kỹ (từ Ðệ Nhị Thế Chiến) không có đầy đủ vũ khí tối tân kể cả đầy đủ phương tiện cấp cứu và cũng không có một lực lượng trừ bị để tăng cường khi cần. Việc súng bất khiển dụng bất thần hoặc đạn bạn bắn trúng bạn là chuyện không sao tránh khỏi trong mọi chiến trận dù là trên đất liền, trên không trung hay trên mặt biển trong lúc chạm địch.
Ðại Tá Hà Văn Ngạc, vị hải đội trưởng trầm lặng, các Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà, Vũ Hữu San, Phạm Trọng Quỳnh, Lê Văn Thự cùng thủy thủ đoàn cũng như các người nhái và biệt hải tham dự trận Hoàng Sa xứng đáng là những anh hùng của Quân Lực Việt Nam.
Hải đội Việt Nam Cộng Hoà nổ súng chỉ là một hành động "tượng trưng nhưng cứng rắn" để chứng tỏ sự bảo vệ chủ quyền các đảo Hoàng Sa chớ không có mục tiêu hủy diệt hải đội của TC.
Tổng Thống Thiệu bị ở trong thế "chẳng đặng đừng". Không phản ứng gì hết thì lịch sử sẽ kết tội hèn nhát mà đụng độ với Hải Quân của một cường quốc như TC thời bấy giờ là một quyết định táo bạo và can trường.
Tinh thần yêu nước không cần được biểu lộ bằng những lời tuyên bố mát tai của những chính trị gia mà được biểu lộ, một cách cảm động và hùng hồn nhất, bởi những thủy thủ của toán đổ bộ của tuần dương hạm Lý Thường Kiệt vào lúc 10 giờ 30 sáng ngày 19/01/1974 tại Hoàng Sa trên xuồng cao su, khi 15 chiến sĩ Hải Quân can trường đồng ca bài "Việt Nam, Việt Nam" khi thấy chiến hạm TC bị trúng đạn của chiến hạm Việt Nam. Bài hát này cũng là bài hát cuối cùng của Hạ Sĩ Nguyễn Văn Duyên vì sau 10 ngày trên biển cả, ngày thì nóng cháy da, đêm thì lạnh thấu xương, hết lương thực, hết nước uống, đuối sức, anh Duyên đã trút hơi thở cuối cùng khi trôi dạt về tới Qui Nhơn.
Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại
Ghi Chú :
(1) Nguyên văn lời Tổng Thống
(2) Tôi hy vọng bản văn gởi Thủ Tướng Khiêm còn được tồn trữ một nơi nào đó
(3) Theo lời trung tá Lê Thành Uyển tuộc Bộ Chỉ Huy Hành Quân Biển có mặt tại phòng họp
(4) Việt Nam Cộng Hoà tuyên bố là 12 hải lý cách bờ biển. Quốc Tế thường công nhân 3 hải lý.
(5) Mặc dù được toàn quyền và biết rằng hải đảo Hoàng Sa thuộc trách nhiệm của Tư Lịnh Quân Khu 1 (chớ không phải của Tư Lịnh Hải Quân) nhưng trước khi ra lịnh khai hoả tác giả vẫn trình Trung Tướng Trưởng để báo cáo tình hình và gọi điện thoại về Bộ Tư Lịnh Hải Quân để tìm Ðô Ðốc Chơn để báo cáo rẵng việc nổ súng không sao tránh khỏi. Bộ Tư Lịnh Hải Quân cho biết Ðô Ðốc Chơn hiện đang dự một buổi lể cùng Tổng Thống ở Ðàlạt và Bộ Tư Lịnh không biết ông sẽ về lại Sàigòn hay ra thẳng Ðànẳng. Khi đô đốc Chơn đến Căn Cứ Hải Quân Ðànẳng tôi trình Ðô Ðốc Chơn là tôi và Ðại Tá Ngạc quyết định tấn công trước để tránh thiệt hại Ðô Ðốc Chơn lặng thinh khi nghe tôi báo cáo một sự việc đã rồi và chưa bao giờ Ðô Ðốc trách cứ thẳng với tôi là chỉ thị khai hoả trước là một quyết đinh sai. Tôi chỉ xác nhận là tôi trực tiếp nói chuyện vô tuyến với Ðại Tá Ngạc đến giây phút cuối trước khi súng nổ. Cũng nên ghi rõ là khi Ðại Tá Ngạc giữ chức Hải Ðội Ðặc Nhiệm tại Hoàng Sa, ông thuộc quyền chỉ huy hành quân trực tiếp của Vị Chỉ Huy Liên Ðoàn Ðặc Nhiệm 231/1 tức Tư Lịnh Hải Quân Vùng 1 Duyến Hải.


    Dự Án Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa 1974
    Nhóm Thân-Hữu Hoàng-Sa
    Paracels R., 15583 Brookhurst St., Westminster,
    CA92683, USA.
    Vũ Hữu San
    Trần Đỗ Cẩm
    lịch sử việt nam, hoàng sa trường sa
    Mục-Lục
    ·  Tựa
    ·  Giới-thiệu Dự-án “Hải-Chiến Hoàng-Sa”: Một cột mốc nhỏ trên chặng đường dài Hải-Sử
    ·  Trận Hải Chiến tại Quần Ðảo Hoàng-Sa Ngày 19 tháng 1 năm 1974. (Trần Ðỗ Cẩm)
    ·  Trận Hải Chiến Hoàng-Sa theo Tài-Liệu Trung-Cộng. (Trần Ðỗ Cẩm)
    ·  Thư riêng về đơn-vị cũ: Internet Trung-Cộng nói gì về KTH Trần-Khánh-Dư (Mạng Lưới Hoàng-Trường, HQ.4)
    ·  Còn Uẩn-khúc nào về Trận Hoàng-Sa? (Vũ-Hữu-San)
    ·  Hồi Ký của Người về Từ Hoa Lục Đỏ: Tôi đã đến đó. (Bí Thư Thắng)
    ·  Bức Thư 15 năm trước - Thời-điểm khởi đầu dự-án. (Vũ-Hữu-San)
    ·  Tiểu-Sử các Anh-Hùng Tử-Sĩ:
    Ngụy-Văn-Thà
    Nguyễn-Thành-Trí
    Huỳnh Duy Thạch
    Phụ-Bản
    Các Tài-liệu Quan-trọng của VNCH ngay sau Trận Hải-Chiến Hoàng-Sa (Nguyên-bản bằng Việt-Ngữ và Anh-Ngữ):
    - Tuyên Cáo Của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa Về Những Hành Ðộng Gây Hấn Của Trung Cộng Trong Khu Vực Quần Ðảo Hoàng Sa (Ngày 19/01/1974)
    - For a more Progressive Legal Regime of the Sea. By Foreign Minister Vuong Van Bac (Caracas session, 1974)
    -White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands. Republic of Vietnam Ministry of Foreign Affairs. Saigon, 1975.
    Bài nói chuyện ngày 17/1/1998 của cựu Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ.4.
    Danh-sách Tử-Sĩ Hoàng-Sa (đang được các Cựu Hải-Quân VNCH và mọi giới đồng-bào nhật-tu cho đầy-đủ).
    lịch sử việt nam, hoàng sa trường sa
    Tựa
    Trên tay các bạn là tập “Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa”. Chúng tôi chân-thành cảm-tạ Quý-Vị trong Nhóm Thân Hữu Hoàng-Sa các bạn đồng khóa Đệ-Nhất Bảo-Bình[1] đã tạo điều kiện thuận lợi để tập tài liệu này đến tay bạn đọc ngày hôm nay.
    Nhóm Chủ-trương chúng tôi cố-gắng hết sức, nhưng thiếu khả-năng trình-bày, in-ấn nên không mong đợi tập tài liệu này được hoàn-hảo như các bạn mong muốn.
    Gần đến ngày kỷ-niệm 30 Năm Giỗ Trận Hoàng-Sa năm nay, nhu-cầu ra mắt một tác phẩm đầy đủ và trung thực về trận Hải-chiến “độc nhất vô nhị” Hoàng-Sa càng ngày càng thêm rõ rệt. Tuy vậy cuộc hành trình vạn lý nào cũng khởi đầu bằng một bước nhỏ. Muốn hoàn thành một tác phẩm lớn, chúng ta cần bắt đầu bằng tài liệu. Rất tiếc, tài liệu về trận hải chiến Hoàng Sa tuy đã được đề cập tới nhiều, nhưng vẫn còn thiếu sót. Nay gặp đúng lúc được anh em Thân Hữu Hoàng-Sa cùng bạn Bảo-Bình khuyến-khích và thúc-đẩy, tập “Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa” tuy khởi sự đã tới 15 năm vẫn chưa xong[2] được vội vã ra đời để làm viên đá lót đường đầu tiên cho tác phẩm "Hải Chiến Hoàng Sa". Chúng tôi hy vọng rằng tác-phẩm lớn hơn này sẽ được nhiều người tiếp tay góp sức hoàn tất sau này.
    Không có ai giám coi thường độc-giả. Chúng tôi cũng vậy. Phần hình-thức cuốn sách nhỏ này tuy có nhiều khuyết-điểm, nhất là thiếu sót về phần hình ảnh, nhưng Nhóm Chủ-trương đã hết sức chú-trọng đến phần nội-dung. Tất cả các bài vở đều được chọn-lựa kỹ-lưỡng, nêu ra những quan-điểm mới mẻ về mặt nghiên-cứu với đầy-đủ tham-chiếu, phụ-chú. Quý-vị sẽ không thấy phần hư cấu, chuyện kể ở đây là những chuyện thực, rất gần với thực-tế và có “tính-chất sử” thực-sự.
    Đúng sai nhiều ít cũng khó phân, nhưng đã có bạn Cựu Hải-Quân cho rằng đây là một thứ tuyển-tập độc-đáo chưa từng có trong kho tàng hải-sử nói riêng và quân-sử nói chung. Dù biết rằng lời trên tuy quá đáng, nhưng trong hoàn-cảnh khó-khăn lúc này, chúng tôi rất mong-mỏi sự khuyến-khích tương-tự để dù “độc-hành” cũng can-đảm tiến bước.
    Được gọi là tập tài-liệu vì sách chứa đựng các bài viết rời-rạc chưa nối-kết lại với nhau, như những nguyên liệu còn riêng rẽ trước khi được tổng hợp thành sản phẩm. Ngoài ra, trên nhiều phương-diện, cuốn sách chưa được tiêu-chuẩn và hệ thống hóa nên đương-nhiên còn nhiều sai-lầm cần sửa đổi. Hy-vọng cuốn sách ra đời nối tiếp sẽ được cải-tiến nhiều hơn.
     Phương chi đây chỉ là cuốn sách khởi đầu, giới-thiệu cho một dự-án khá lớn. Chúng tôi đang làm việc để hy vọng hoàn-tất một tác-phẩm song-ngữ Việt-Anh có tính hải-sử lớn lao hơn trong tương-lai, nhan-đề “Hải-Chiến Hoàng-Sa”. Dự án có thể được viên mãn hay không còn tùy thuộc nhiều vào sự tiếp tay của độc giả. "Một cây làm chẳng nên non …"
    Như đã nói ở trên, dù lạc quan đến đâu, chúng tôi vẫn không thể hy vọng cuốn sách sẽ không có ít đoạn sai nhầm hoặc nhiều chỗ tối nghĩa. Nhưng chúng tôi tin rằng tập tài liệu này đủ rõ-ràng và chính-xác để bổ túc cho những bài viết về Hải-Chiến Hoàng-Sa trước đây...
    Để trả lời một câu hỏi thua hay thắng ở Hoàng-Sa, Tư-lệnh Hải-quân Vùng 1 Duyên-hải (V1ZH hay V1DH) là Phó Đề-Đốc Hồ-Văn Kỳ-Thoại đã trả lời như sau: “về quân sự, Hải-Quân Việt-Nam đã thắng trận hải chiến nhưng thất bại trong nhiệm vụ tái chiếm Hoàng-Sa”. [3] Chúng tôi nhận chân sự thật: Hoàng-Sa đã mất. Nhiệm-vụ bảo-vệ Hoàng-Sa không chu-toàn. Việt Nam đã thua và mất đảo cũng như hải-phận cho Trung-Cộng. Bài học lịch-sử này đắt giá quá, chúng ta phải phải xem xét lại rút ưu, khuyết-điểm… Phải học…
    Viết về chuyện này 20 năm sau (tức 1994), đặc biệt suy-tư về sự yên-lặng của ‘lương-tâm” Hà nội vào năm 1974, một bình luận gia nổi tiếng của tờ Far Eastern Economic Review, ông Frank Ching trong số ra ngày 10-2-1994 đã có nhận định như sau: "Thuở ấy, Hà nội thường thích mô tả các viên chức của miền Nam như là những tay sai của Mỹ đã bán đứng những quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Nhưng cũng ngay từ đó, những lời cáo buộc ấy đã không nhất thiết đứng vững. Giờ đây, 20 năm sau, thật rõ ràng là đã có những lúc chính quyền Sài gòn thực sự đại diện cho quyền lợi của Việt Nam một cách ngoan cường hơn là chính quyền Hà nội."
    Chúng tôi viết sách về chuyện Hoàng-Sa này sau 30 năm của biến-cố (tức 2004) chỉ vì lý-tưởng quốc-gia dân-tộc đè nặng tâm-trí, khả-năng không có nhưng rất nhiều cố-gắng. Xin quý-vị độc-giả niệm tình, rộng lượng tha-thứ.
    Cẩn bút,
    Vũ Hữu San, California
    Trần Đỗ Cẩm, Texas
    Tháng 1/2004
    Giới-thiệu dự-án “Hải-Chiến Hoàng-Sa”
    Một cột mốc nhỏ trên chặng đường dài Hải-Sử
                Cuốn sách nhỏ “Tài-liệu Hải-Chiến Hoàng-Sa” có tính-cách sử-liệu này ra mắt trong dịp lễ Giỗ Trận Hoàng-Sa 30 năm vào ngày 19-1-2004.
                Đây là cuốn sách khởi đầu cho một dự-án khá lớn. Chúng tôi đang làm việc để hoàn-tất một tác-phẩm song-ngữ Việt-Anh có tính hải-sử lớn lao hơn trong tương-lai, nhan-đề “Hải-Chiến Hoàng-Sa”.
    Kính mời Quý-Vị theo dõi loạt bài này và sẵn lòng yểm-trợ chúng tôi hoàn-tất dự-án. Chân-thành cảm-tạ.
    * * * *
                Trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Hải Quân Trung Cộng (TC) tại quần đảo Hoàng Sa đã xảy ra cách đây đã tròn 30 năm, vào ngày 19 tháng 1 năm 1974. Dư âm của trận đánh vẫn còn vang vọng với nhiều hậu quả quan trọng. Ðây là lần đầu tiên từ đời nhà Trần vào thế kỷ 13, thủy quân Việt-Nam và Trung-Hoa lại đụng độ nhau ác-liệt[4]. Nếu những trận thủy chiến ngày xưa tại cửa biển Hàm Tử, Vân Ðồn, Chương Dương v.v... và sông Bạch Ðằng đã chấm dứt giấc mộng xâm lăng của kẻ thù phương Bắc, thì trận hải chiến thời nay[5] đã không kết thúc mà lại mở đầu cho những diễn biến liên quan mật thiết đến tương lai của Việt Nam cũng như có thể làm thay đổi tình hình tại vùng Ðông Nam Á và ảnh hưởng tới cục diện toàn cầu.
                Trong suốt thời gian 30 năm qua, phía VNCH đã có nhiều bài viết khả tín liên quan tới trận đánh, đa số của các cựu quân nhân Hải Quân đã trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan. Cũng đã có lắm nỗ lực nhằm tường-thuật lại trận hải chiến, nhưng tựu chung, vẫn còn nhiều chi tiết thiếu chính xác và nghi vấn chưa được giải đáp về biến cố quan trọng này. Ðiển hình trong thời gian gần đây, Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH (THHQ/HH/VNCH) tại Hoa Kỳ đã tích cực thu thập tài liệu với thiện chí hoàn thành tập Hải Sử Hoàng Sa. Chúng tôi rất hy vọng và ước mong việc làm cần thiết, đáng ca ngợi này sớm đạt được thành quả cụ thể để thế hệ mai sau và các sử gia trên thế giới có tập tài liệu xứng đáng, đúng tiêu chuẩn sử quan về Hoàng Sa, giúp ích cho việc nghiên cứu sau này. Trong khi chờ đợi cuốn hải sử chính thức về Hoàng Sa được phát hành, thiết tưởng mỗi cá nhân, đoàn thể tùy theo khả năng và hoàn cảnh cũng nên đóng góp kiến thức, tiếp tay với THHQ/HH/VNCH trong việc thực hiện Hải Sử để sự hy sinh và tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Hải Quân VNCH không bị mai một. Việc làm của chúng tôi cũng không ngoài mục đích cộng tác với THHQ/HH/VNCH cung-cấp thêm một số sử-liệu chính-xác để lại cho các Sử-gia thế-hệ mai sau.
                Chúng ta đều biết một trong những trở ngại chính cho việc biên khảo về biến cố xảy ra trong quá khứ là vấn đề sưu tầm tài liệu. Muốn bài viết được tương đối khách quan và phản ảnh phần nào sự thật, cần nghiên cứu và đối chiếu nhận xét cũng như nhãn quan của các phe liên hệ qua những sách vở, phúc trình chính thức, đồng thời phỏng vấn những nhân chứng. Khi biên khảo về Hoàng Sa, khó khăn càng thêm chồng chất vì tài liệu chính thức hầu như không có.[6]
    Hiện nay tại hải ngoại, ngoài các bài viết đa số thuộc loại hồi ký của phía VNCH, chúng ta hầu như không còn tài liệu nào của Hải Quân ghi lại trận đánh lịch sử này. Rất tiếc, ký ức là năng khiếu đầu tiên phai mờ cùng thời gian. Hơn nữa, một cá nhân dù là cấp chỉ huy vẫn không thể có tầm nhìn bao quát toàn sự kiện, phần lớn chỉ biết được phạm vi trách nhiệm cũng như tầm nhìn từ vị trí của mình, nên có viết lại được trung thực cũng khó giúp người đọc thấu triệt mọi diễn tiến. Ðó là chưa kể yếu tố tâm lý chủ quan, hoặc áp lực tránh đụng chạm cũng đưa đến nhiều nhận xét có phần thiên lệch, tránh né sự thật.
    Về phía Trung Cộng, do khái niệm Tự Do Ngôn Luận thường thiếu được tôn trọng trong chế độ Cộng Sản, các tài liệu chính thức về Hải-Chiến Hoàng-Sa đã chỉ được công bố một cách ngắn ngủi và nặng tuyên-truyền trên các tờ báo như Beijing Reviews, China Quarterly... Tuy nhiên trong thời gian gần đây, nhờ chính sách "cởi trói" tại Hoa Lục và những tiến bộ vượt bực của mạng lưới toàn cầu Internet, chúng tôi đã tìm được một số bài viết cũng thuộc loại hồi ký của những người đã trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới trận đánh cùng một số phúc trình bán chính thức của TC như các chiến hạm tham chiến, danh sách cấp chỉ huy, báo cáo thiệt hại v.v... Nếu loại bỏ quan điểm chủ quan đôi khi quá khích thường thấy của những cán bộ Cộng Sản và khía cạnh tuyên truyền cố hữu, chúng ta có thể gạn lọc được một số chi tiết hữu dụng. Ðặc-biệt, các phần vận-chuyển chiến-hạm và xạ-kích hải-pháo mà đôi bên trao đổi nhau, nhờ các tài-liệu này, được nhìn ra rõ ràng hơn.[7]
    Riêng phần Hoa Kỳ, sau nhiều lần tiếp xúc với các cơ quan Quân Sử, những Cựu HQVN đều được trả lời là HQHK không hề có một tài liệu nào liên quan tới Hoàng Sa. Ðây là điều khó tin vì trong thời điểm xảy ra trận đánh, Hạm Ðội 7 của Hải Quân Hoa Kỳ vẫn còn nhiều chiến hạm hoạt động trong vùng Biển Ðông ngoài khơi Việt Nam, rất gần Ðảo Hải Nam và Hoàng Sa. Chỉ với các chiến hạm "bình phong" phòng không và phòng thủy tiêu chuẩn của một Hải Ðoàn Mẫu Hạm, họ đã có khả năng kiểm soát không phận và hải phận vịnh Bắc Việt, đó là chưa kể các vệ tinh và phi cơ không thám thường trực bao vùng. Chắc chắn mọi di chuyển dù nhỏ trên không cũng như dưới biển đều không thể lọt qua được màng lưới trinh sát của họ. Vì vậy, sự im lặng khó hiểu của các giới quân sự Hoa Kỳ về một biến cố quan trọng xảy ra ngay trong vùng hoạt-động của họ chỉ có thể giải thích bằng quan điểm chưa muốn công bố sự thật về những sắp xếp có sẵn giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Tưởng cũng nên nói một số báo chí Hoa Kỳ tuy không cung cấp được những chi tiết chính xác về trận hải chiến, nhưng cũng đã loan tin một số chiến hạm Hoa Kỳ hiện diện trong vùng lúc xảy ra trận đánh, dù hải quân Hoa Kỳ vẫn không xác nhận.[8]
    Ý thức được tầm quan trọng của trận hải chiến Hoàng Sa trong lịch-sử cũng như về mặt chiến lược, chiến thuật cùng những hệ quả của nó, chúng tôi cố gắng đóng góp một số bài viết căn bản với hoài bão giúp độc giả có một tầm nhìn khách quan tương đối trung thực về những sự kiện đã xảy ra cũng như những hậu quả liên quan tới trận hải chiến. Ðể đạt tới mục tiêu này, chúng tôi đã căn cứ vào những tài liệu cụ thể hiện có, thu thập thêm những dữ kiện liên quan về phía Trung Cộng cũng như Hoa Kỳ và phỏng vấn những nhân chứng. Tất cả những chất liệu thâu thập sau đó được phân tích, kiểm chứng rồi tổng hợp qua một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ để hy vọng đạt được mục đích trung thực và khách quan càng nhiều càng tốt trong hoàn cảnh khó khăn vì thiếu thốn phương tiện cũng như tài liệu hiện nay.
    Chúng tôi chọn thời điểm này vì thiết tưởng với thời gian 30 năm đã qua kể từ ngày xảy ra trận hải chiến, mọi xúc động ban đầu đã phần nào lắng đọng nhưng trí nhớ con người vẫn còn đủ minh mẫn để gợi lại những diễn biến mấu chốt. Hơn nữa, những chứng nhân chính, ngoài Hải Ðội Trưởng Hà Văn Ngạc đã khuất núi, trở lại với Hoàng Sa cùng Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 [9], vẫn còn nhiều cấp chỉ huy có thẩm quyền, cũng như Sĩ Quan (SQ), Hạ Sĩ Quan (HSQ) và Đoàn viên (ĐV) khác còn sống có thể mô tả khá trung thực những chi tiết về trận hải chiến. Một yếu tố nữa khiến các bài viết có thể giữ được yếu tố khách quan vì áp lực theo hệ thống quân giai từ các giới chức thẩm quyền đã ngưng tồn tại, cũng như yếu tố "tuyên truyền" không còn cần thiết.
    Ngoài ra, khi nhắc tới quyết tâm của các chiến sĩ Hải Quân VNCH trong nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ tại Hoàng Sa, chúng ta không khỏi liên tưởng đến bức công hàm tai-hại của Ông Phạm Văn Ðồng[10]. So sánh tinh thần chiến đấu anh dũng, dù trong hoàn cảnh khó khăn "lưỡng đầu thọ địch" của các chiến sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa với thái độ tắc trách trên, chúng ta thấy rõ đâu là chính nghĩa cao-cả bảo vệ quốc gia.
    Giống như một trong những điểm xác định vị trí của chiến hạm trên hải đồ trong cuộc hành trình dài, tập “Tài-liệu Hải-chiến Hoàng-Sa” này chỉ là một "kiểm điểm" (checkpoint) đánh dấu cột mốc nhỏ của dự án về Hải-Chiến Hoàng Sa mà mục tiêu tối hậu là một tập tài liệu trung thực, khách quan và khả tín được ấn hành bằng song ngữ Việt-Anh với nhiều phụ bản, hình ảnh, phóng đồ v.v... để các thế hệ mai sau cũng như các sử gia trên thế giới có thể dùng làm tài liệu tham khảo. Mục đích trên có thể đạt được hay không còn tùy thuộc vào yếu tố thời gian, hoàn cảnh cũng như phương tiện cho phép.
    Trước đây, các chiến hạm HQVNCH đã lướt sóng trực chỉ Hoàng Sa để đương đầu với quân xâm lăng mạnh hơn nhiều lần, thành công hay thất bại không phải là yếu tố chính vì còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khách quan cũng như chủ quan. Tinh thần phục vụ, ý chí quyết chiến để bảo vệ lãnh hải mới là điều quan trọng. Tương tự, ý định hoàn tất tác phẩm đầy đủ về trận hải chiến Hoàng Sa cũng sẽ gặp nhiều khó khăn và chưa chắc sẽ được hoàn thành viên mãn, nhưng với ý chí và quyết tâm của nhóm biên tập, cộng thêm sự trợ giúp quí báu của những người có tâm huyết còn nặng lòng với sự nghiệp tiền nhân, chúng tôi hy vọng sẽ đạt được ít nhiều kết quả mong muốn nào đó.
    Trân trọng,
    Chủ-biên: Vũ Hữu San & Trần Ðỗ Cẩm



Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

ALAN PHAN: Nguy và Cơ

Link gốc: http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/nguy.html
BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ SÁU 11/1/2013
Một lập luận tôi nghe khá thường xuyên trong những lúc trà dư tửu hậu gần đây. Đó là tình hình suy thoái, nguy hiểm của chúng ta chứa nhiều “cơ hội tiềm năng” cho những doanh nghiệp biết nắm bắt và thích ứng. Thậm chí, một vài chuyên gia còn viết bài về “cơ may” của Việt Nam trong cơn khủng hoảng này.
 
Ai cũng đều đưa ra một minh chứng là từ ngàn xưa, chữ Trung Quốc đã ghi rõ “cơ” nằm giữa “nguy”. Những đầu óc đình đám nhất của chúng ta luôn giả định là các tổ tiên Tàu đã nói thế thì đây là chân lý rồi. Phận con cái phải nghe theo thôi. Thậm chí, một đại học giả còn nhắc chúng ta phải mang ơn mẫu quốc về cơm áo cũng như văn hóa đến đời đời con cháu sau này.
Ai cũng công nhận đi tìm “cơ” giữa “nguy” là một thái độ tich cực và sáng tạo. Hành động thể hiện một tư duy dựa trên niềm tin của tuổi trẻ, bất chấp những thất vọng của tình thế.

Tuy nhiên, khi sự lạc quan trở nên mù lòa và mất đi logic hay khoa học, “cơ” trong “nguy” trở thành một trò tuyên truyền dựng lên bởi các chánh trị gia để đa số người dân quên đi một thực tế khá bẽ bàng. Không có “cơ” nào cho một nền kinh tế mà phí quản lý cao hơn 42% GDP (mỗi đơn vị phải chi ra 42 xu mỗi đồng cho giá thành, chưa tính đến cac phí tổn sản xuất hay tài chánh khác). Không có “cơ” nào cho một hệ thống tài chánh mà 63% đầu tư chạy vào bong bong bất động sản và nguy cơ nợ xấu có thể vượt qua 38% GDP. Không có “cơ” nào cho một cơ chế mà 68% đầu tư bị các doanh nghiệp nhà nước chiếm lĩnh theo lối kinh doanh OPM.
Bao giờ thì chúng ta hiểu ra rằng “cơ” đã đi mất từ lâu. Chỉ còn “nguy” và “nguy”.
Alan Phan

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Alan Phan: Chuyện nhỏ hay lớn?

Link: http://www.gocnhinalan.com/blog-cua-alan-va-bca/chuyn-nh-hay-ln.html

BLOG CỦA ALAN NGÀY THỨ BA 8/1/2013
Theo RFA Online, Trung Quốc đang bắt đầu thảo luận với các đảng không Cộng Sản cũng như đã phát động một chiến dịch PR mới về hình ảnh cho các tân lãnh tụ. Không một phân tích gia chính trị nào lại ngây thơ cho rằng Tập Cận Bình sắp là một Boris Yeltsin của Trung Quốc; nhưng lịch sử cũng đầy những bất ngờ thú vị mà ít người có thể dự đoán chính xác. Tuy nhiên, những dấu hiệu nhỏ nhoi này có thể là một “dạo khúc” cho một bài trường ca thay đổi cả lịch sử nhân loại. Khi Đặng Tiểu Bình quay lại Bắc Kinh và tụ họp đàn em để lật đổ “tứ nhân bang” do vợ Mao Trạch Đông cầm đầu, ít người có thể mường tượng một biển dâu cho xã hội Trung Quốc chỉ 10 năm sau đó.
Tình thế tuyệt vọng về kinh tế đã đưa Gorbachev lên nắm quyền để đế chế Xô Viết “tự diễn biến” vào 1989. Lần này, nhiều người tiên đoán mâu thuẫn và bất ổn xã hội sẽ buộc các tân lãnh tụ Trung Quốc phải hay đổi sâu xa cơ chế chánh trị để kinh tế tiếp tục khởi sắc và thỏa mãn nhu cầu an sinh của lớp trẻ. Thực ra, ngoài một vỏ bọc dưới danh nghĩa “xã hội chủ nghĩa dân tộc” để tiếp tục nắm quyền, đảng cộng sản Trung Quốc đang điều hành một nền kinh tế “tư bản’hơn cả đàn anh Mỹ. Chỉ khác một chỗ là “tư bản thân hữu tập quyền của thiểu số” thay vì “tư bản thị trường cho đại chúng”. Sự cách biệt này không sâu rộng lắm và tôi cho rằng 2 nhiệm kỳ của Tập Cận Bình có thể lấp đi đến 70 phần trăm hố ngăn.
Nhiều người nghĩ là tôi bi quan thái quá khi đánh giá tương lai của nền kinh tế Việt. Thực ra, tôi đang rất lạc quan. Chu kỳ của lịch sử sắp đi vào một cơn lốc mới và tôi hy vọng là những dấu hiệu từ Trung Quốc cho thấy một vận chuyển “lớn” của tình hình châu Á. Vở kịch cũ quá dở và màn sắp hạ vì khán giả đã bỏ đi gần hết. Tôi sẽ nán lại đây ít lâu đợi màn kịch mới. Hy vọng các diễn viên, kịch bản và đạo diễn mới sẽ cống hiến một tác phẩm “ngon lành” hơn.
Alan Phan

Bài của RFA Online:
Chính trường Trung Quốc đang báo hiệu những chuyển thay lớn. Tân lãnh tụ Tập Cận Bình vừa mới tuyên bố rằng đảng Cộng sản sẵn sàng và cam kết sẽ làm việc chung với các đảng phái khác, theo tinh thần đa đảng, đồng thời ủng hộ ý kiến để các đảng khác (không phải Cộng sản) giữ một vai trò quan trọng trong chính quyền.
          Bản tin của Tân Hoa Xã nói là ông Tập hứa hẹn và cam kết tham khảo ý kiến cũng như lắng nghe các đề nghị từ các đảng phái khác với mục tiêu để đảng Cộng sản có thể phục vụ dân chúng hữu hiệu hơn.
          Ngay sau khi lên nắm quyền tối thượng với vai trò Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước và Chủ tịch quân ủy trung ương, ông Tập đã tiếp kiến các tân lãnh tụ của 8 đảng ngoài Cộng sản. Điều đặc biệt là 8 đảng phái này đều là những người hết lòng ủng hộ đảng Cộng sản, và được nhà nước cấp phép hoạt động công khai.
          Ở một động thái khác, ông Tập cùng thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc đang muốn cải thiện, tạo dựng một hình ảnh khác theo hướng gần gũi, thân thiện với người dân.
          Hình chụp các nhà lãnh đạo trong Ban thường vụ Bộ Chính trị đầy quyền lực của Trung Quốc được đưa trên các mặt báo những ngày gần đây rõ ràng nhằm tạo dựng một hình ảnh khác theo hướng thân thiện với dân chúng.
          Đó là bức ảnh ông Tập Cận Bình, nhân vật đứng đầu, người quyền lực nhất Trung Quốc bình dị đèo con gái thư thái trên một chiếc xe đạp.
          Đó là bức ảnh Thủ tướng Lý Khắc Cường, nhân vật quyền lực thứ hai trong Bộ Chính trị, người được mô tả là một nhân vật biết “đặt nhân dân lên trên hết” ngồi xổm nở nụ cười tự nhiên thoải mái một cách thân thiện bên những lão nông mình trần cạnh bức tường gạch nham nhở. Rồi những cảnh ông Lý đang bắt tay các thợ mỏ và ăn mì ăn liền khi kiểm tra công tác cứu hộ thảm họa… (theo BBC)
 
 
            Trước đó không lâu, Trung Quốc cũng đã ban hành một sắc lệnh “không hoa, không quà, không thảm đỏ cho lãnh đạo”. Băngrôn, thảm đỏ, hoa, phong tỏa đường phố, tặng quà kỷ niệm trong các chuyến thăm của lãnh đạo… sẽ nằm trong danh sách bị hạn chế. Các quan chức quân đội cũng buộc phải nói “không” với các loại rượu đắt tiền và tiệc tùng xa hoa. Thay vào đó, họ sẽ buộc phải dùng các bữa ăn tự chọn đơn giản, bình dân. Vừa mới tháng 7/2012, Trung Quốc đã ra lệnh cấm đưa món súp vi cá mập vào các bữa tiệc chiêu đãi quan chức.
          Theo bản qui định “15 điều” do chính quyền thủ đô Bắc Kinh ban hành yêu cầu quan chức lãnh đạo phải hạn chế các hội nghị tốn kém, giảm số người tháp tùng, đơn giản hóa việc tiếp đón. Dẹp bỏ các bài báo ca tụng lãnh đạo hoặc đưa tin về các buổi triển lãm, cắt băng khánh thành và các hoạt động, nghi lễ khác. Thậm chí còn qui định rất cụ thể, khắt khe rằng một bản tin quan trọng không vượt quá 800 chữ, thời gian phát sóng trên truyền hình không được vượt quá 1 phút.

Càng làm càng lỗ!

Người ta hay lấy các lý do này lý do kia để giữ lợi ích cục bộ. Chứ nếu xác định lợi ích tối thượng là lợi ích quốc gia và lợi ích của nông dân, lực lượng chiếm gần 70% dân số của nước ta thì sẽ làm được, GS Võ Tòng Xuân nói về xuất khẩu lúa gạo.
Thưa giáo sư, năm 2012, kết quả chung của SXNN nước ta đạt giá trị rất lớn, nhất là xuất khẩu. Song ngôi vị xuất khẩu gạo số 1 thế giới năm trước của Việt Nam đã rơi vào tay Ấn Độ. Giáo sư có quan tâm tới điều này không?
GS Võ Tòng Xuân: Ngôi vị số 1 hay số 2 không phải là vấn đề gì lớn cả đâu. Vấn đề lớn là làm sao cho người trồng lúa nói riêng và người nông dân có thu nhập cao. Thái Lan là cường quốc xuất khẩu gạo số 1 trước ta từ lâu. Nhưng họ đâu cần quan tâm ngôi vị này làm gì. Năm ngoái họ nâng giá lúa cho nông dân lên 50%. Nông dân Thái được lợi nhuận cao, rất vui mừng. Tôi theo dõi kết quả thăm dò tín nhiệm bà Thủ tướng Thái hồi sáng nay trên báo của họ công bố, thấy tỷ lệ ủng hộ của người dân Thái rất cao. Cử tri Thái đánh giá cao chính sách nâng giá lúa gạo dù có nhiều tổ chức, doanh nghiệp phản đối. Tất nhiên Chính phủ Thái phải "nghiêng" về nhân dân hơn chứ!
Lúc chính phủ Thái công bố nâng giá lúc gạo 50%, tôi đã đề nghị Việt Nam cần nâng theo họ vì 2 quốc gia Việt Nam và Thái Lan chiếm thị phần rất lớn. Cả 2 cùng đồng lòng sẽ có lợi cho nông dân 2 nước. Năm ngoái, ta giành được ngôi vị xuất khẩu số 1 trong tình thế người Thái nâng giá bán để bảo vệ lợi ích cho nông dân của họ.
Vin lí do
Nhưng ngoài Việt Nam và Thái Lan, thị trường cung ứng gạo thế giới có thêm đối thủ Ấn Độ với giá gạo rẻ hơn. Họ sẽ giành mất thị trường nếu ta nâng giá gạo? Thực tế Thái Lan đã mất một số thị trường vào tay Việt Nam vì ta không nâng giá?
Ấn Độ có trên 1 tỷ dân, gấp hơn 10 lần dân số nước ta. Sức chứa lượng gạo dự trữ của họ rất lớn. Hàng năm họ phải đưa gạo mới vào cất trữ, bán gạo cũ ra. Gạo này ăn không ngon, giá rất rẻ.
Còn gạo của Việt Nam chất lượng cao hơn, ăn ngon hơn nhiều. Đó là ưu thế lớn của ta.
Khi Thái Lan nâng giá gạo, ta ham bán rẻ, được thị trường nhưng lợi nhuận không cao. Với người nông dân trồng lúa thì bị lỗ.


Thưa giáo sư, ý tưởng thành lập liên minh lúa gáo Việt - Thái đã có từ lâu song tại sao 2 bên không "gặp nhau" để cùng bảo vệ lợi ích cho 2 quốc gia cũng như người trồng lúa của 2 nước? Trên thế giới đã có nhiều liên minh như thế này với các hình thức khác nhau, chẳng hạn như OPEC, tổ chức dầu hỏa?
Do chưa có niềm tin và quyết tâm cao. Người ta hay lấy các lý do này lý do kia để giữ lợi ích cục bộ. Chứ nếu xác định lợi ích tối thượng là lợi ích quốc gia và lợi ích của nông dân, lực lượng chiếm gần 70% dân số của nước ta thì sẽ làm được.
Người Thái vì lợi ích của nông dân, đã "đơn thương độc mã" quyết tâm thực hiện đấy. Nếu Việt Nam cùng tham gia, tình hình sẽ khác. Quan trọng nhất là bảo vệ được quyền lợi cho nông dân và đất nước!
"Nội soi" từ nội tại của nền SXNN
Thưa giáo sư, từng là quốc giá xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới từ đầu thế kỷ 20, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Việt Nam lộn ngược lại thành quốc gia nhập khẩu gạo.  Mãi đến tận năm 1989, ta mới trở lại xuất khẩu gạo với vị trí thứ 2 thường xuyên trên thế giới. Suốt gần ¼ thế kỷ "trở lại" này, giáo sư có đánh giá như thế nào về ưu, nhược của nền SX lúa gạo nói riêng và SXNN nói chung ở nước ta?
Nông dân ta vô cùng năng động, nhạy bén và sáng tạo. Đây là một lợi thế lớn song chưa được tổ chức tốt nên có lúc thành bất lợi.
Về quản lý Nhà nước, theo tôi cần xem lại việc cư xử với người trồng lúa như thế nào để cuộc sống của họ khấm khá lên tương ứng với đóng góp của họ. Trong khâu tổ chức, vẫn còn lỏng lẻo lắm, Nhà nước mới chỉ làm được một nửa, "theo đuôi" các doanh nghiệp nhiều hơn là vì lợi ích của nông dân.
Đã gần 30 năm thành "cường quốc" xuất khẩu gạo mà gạo Việt Nam chưa có thương hiệu thì không thể chấp nhận được. Thiệt thòi cho đất nước rất lớn, thiệt hại cho nông dân rất nhiều.
Giáo sư có thể nói rõ hơn từng phần?
Rõ ràng nhất là nông dân ta hưởng ứng rất tích cực chủ trương Đổi mới của Đảng và Nhà nước, làm ra sản lượng lương thực lớn hơn rất nhiều, đưa đất nước từ nhập khẩu gạo lớn, có năm tới 1,5 triệu tấn thành xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Nhưng nghịch lý là thu nhập của người nông dân thấp nhất trong xã hội. Khoảng cách giữa thành thị với nông thôn ngày càng xa.
Về tổ chức sản xuất và kinh doanh gạo, ta thấy Nhà nước "nặng" về doanh nghiệp hơn. Bao năm qua chúng ta từng chứng kiến nhiều thời điểm nhu cầu gạo thế giới đang cao, giá thị trường thế giới rất tốt, bỗng dưng Nhà nước "tạm dừng xuất khẩu" để hạ giá gạo trong nước xuống với lý do rất mơ hồ là "an ninh lương thực"! Điều này chỉ có lợi cho doanh nghiệp nhưng "giết" nông dân.
Hàng năm vào vụ thu hoạch chính, giá lúa rớt vì tập trung thu hoạch rộ, doanh nghiệp nhà nước kiến nghị mua tạm trữ, Chính phủ duyệt, cho vay vốn không lãi suất mua theo giá sàn Nhà nước quy định. Thực tế, nông dân bán không thể được giá sàn vì phải qua trung gian là thương lái. Doanh nghiệp mua lúa được giá thấp vì thời điểm thu hoạch rộ, chế biến và xuất khẩu có lời, nông dân chẳng được hưởng gì cả.
Cơ chế "mua tạm trữ" cứ "đến hẹn lại lên" hàng chục năm qua chưa thay đổi gì có lợi cho nông dân.
Nhiều người nước ngoài than phiền, trong một bao gạo Việt Nam có mấy loại giống!
Còn việc gạo Việt Nam chưa có thương hiệu, tôi cho rằng với kiểu tổ chức kinh doanh gạo như hiện nay thì không thể nào có thương hiệu được. Doanh nghiệp không tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu, không mua lúa trực tiếp từ nông dân mà mua qua thương lái thì không thể có gạo rặt, mà "năm cha ba mẹ", làm sao có gạo đúng tiêu chuẩn?
Thái Lan là nước xuất khẩu hàng đầu, sản lượng lớn. Cả nước Thái sản xuất ra nhiều như vậy mà chỉ có 3 giống lúa. Còn ta, hàng mấy chục giống lúa. Thương lái mua gom của nhiều nông dân về trộn lại, xay, đánh bóng, giao cho công ty xuất khẩu. Vì lợi nhuận, họ phải trộn lúa giá rẻ phẩm chất kém vào lúa giá cao nên công ty xuất khẩu chẳng kiếm đâu ra gạo rặt là vậy!
Tôi đã nghe nhiều khách hàng mua gạo người nước ngoài than phiền hàng chục năm qua rằng, trong một bao gạo của Việt Nam có mấy loại giống!
Xây dựng thương hiệu đòi hỏi nhiều yếu tố. Song yếu tố chất lượng là hàng đầu. Yếu tố đầu tiên của ta chưa có, làm sao mong hạt gạo Việt Nam đi xa hơn?

TRONG KHI ĐÓ THÌ: 

 http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/chuyenlaman/89878/

Lợi nhuận của Vinafood2 thấp nhất từ năm 2008

Ngọc Hùng
Chủ Nhật,  6/1/2013, 11:03 (GMT+7) 
 

 

 

 


(TBKTSG Online) – Năm 2012 lợi nhuận của Tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood2) chỉ đạt 300 tỉ đồng. Đây là mức lợi nhuận thấp nhất kể từ năm 2008.
>>> Vinafood 2 sẽ thoái vốn các lĩnh vực ngoài ngành
Nếu so sánh với năm 2011 thì lợi nhuận của Vinafood2 trong năm 2012 giảm đến 829 tỉ đồng. Tổng giám đốc Vinafood 2, ông Trương Thanh Phong, cho rằng lợi nhuận giảm là do khó khăn chung.
Trong giai đoạn 2008-2012, năm 2010 mà Vinafood2 có lợi nhuận cao nhất là 1.450 tỉ đồng. Vinafood2 là đã bán ra 3,1 triệu tấn gạo, doanh thu là 1,5 tỉ đô la Mỹ.
Năm 2011 Ban giam đốc Vinafood2 đặt mục tiêu lợi nhuận là 1.400 tỉ đồng nhưng thực tế chỉ đạt 1.129 tỉ đồng. Tuy giảm so với kế hoạch mà Vinafood2 đặt ra song lại tăng 239 tỉ đồng so với kế hoạch mà Vinafood2 được giao từ cấp trên.
Theo công bố tại hội nghị tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012 của Vinafood2 vào ngày 4-1-2012, Vinafood2 đưa ra mục tiêu trong năm 2012 sẽ mua và bán 2,9 triệu tấn gạo, doanh thu là 1,4 tỉ đô la Mỹ.
Lợi nhuận của Vinafood2 từ năm 2008-2012. Ngọc Hùng tổng hợp
Theo quyết định số 1909/QĐ-TTg về việc tái cơ cấu từ năm 2012-2015 Vinafood2 sẽ cổ phần hóa một số công ty con, vì vậy, có thông tin cho rằng, Vinafood2 tìm cách giảm lợi nhuận xuống để gián tiếp ảnh hưởng đến việc cổ phần hóa các công ty con nhằm định giá thấp hơn thực tế để một số cán bộ có thể mua được nhiều cổ phần hơn.
Tuy nhiên, trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, ông Phong nói rằng không có chuyện đó và cũng không có bình luận nào thêm.
Theo đề án tái cơ cấu Vinafood 2 sẽ tập trung đầu tư chương trình một triệu tấn kho lương thực với máy móc thiết bị tự động hóa, đồng bộ từ khâu sấy, xay xát, chế biến và xuất khẩu gạo. Đến năm 2015, theo bản đề án tái cơ cấu, thì Vinafood 2 sẽ có kho chứa với tổng tích chứa 1,7 triệu tấn. Hệ thống xay xát, sấy lúa 2 triệu tấn/năm.
Việc tái cơ cấu này sẽ giúp Vinafood 2 mỗi năm xuất khẩu 3,5 triệu tấn (quy ra gạo), góp phần tiêu thụ tốt hàng hóa cho nông dân.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), năm 2012 Việt Nam đã ký hợp được hợp đồng xuất khẩu hơn 8 triệu tấn gạo với tổng giá trị là 3,7 tỉ đô la Mỹ. Còn theo thông tin được Hiệp hội lương thực Việt Nam tính đến hết ngày 27-12-2012 Việt Nam đã xuất khẩu 7,563 triệu tấn gạo đạt giá trị là 3,376 tỉ đô la Mỹ (giá FOB - giao tại mạn tàu)