Tuy nhiên, trong dân gian, những giai thoại, huyền thoại về Huyền Quang lại khá phong phú. Nó chứng tỏ Huyền Quang vừa là vị Tổ đáng kính( Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm), lại vừa là một con người còn khá trần tục, rất gần gũi với những người bình thường, do đã biết rung động thực sự trước vẻ đẹp của giai nhân!
Hai thái cực đó, trong một con người mà lẽ ra không nên có, và không thể chấp nhận ở một bậc Thiền sư, ở vào hàng đại diện quốc gia, đã là điều mà trước kia các vị danh nho đã từng luận đàm và bày tỏ thái độ. Tựu trung, sự đánh giá, luận đàm của họ, là nhằm vào bài thơ Giai nhân tức sự mà theo tương truyền, là do Huyền Quang làm, và mối quan hệ của Huyền Quang với nàng Điểm Bích là có thực, khi ông đã ở độ tuổi ngoài sáu mươi!
https://vietsuky.wordpress.com/2012/11/29/217-thien-su-huyen-quang/
TS. LÃ DUY LAN
Sách Tam tổ thực lục ghi: “Huyền Quang đỗ đầu thi hội và ngoài năm mươi tuổi mới xuất gia”. Nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng Huyền Quang đỗ Trạng Nguyên (đời Trần) và xuất gia tu hành từ lúc còn trẻ tuổi.
Là vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, có hàng mấy ngàn đệ tử nhưng Huyền Quang cũng còn là một nhà thơ nổi tiếng. Trải qua bao phen binh lửa, đến nay thơ Huyền Quang chỉ còn lại tập Ngọc Tiên với 23 bài thơ chữ Hán và một bài phú Nôm. Tuy ít ỏi như vậy, nhưng thơ Huyền Quang có “nhiều hàm nghĩa và một tâm hồn thơ phong phú”.
Thơ Huyền Quang “thể hiện rõ phong cách Thiền gia an lạc, thanh thản, con người hoà đồng cùng tự nhiên”, “là niềm cảm thông với những nỗi khổ vô hạn của nhân thế”. Thơ Huyền Quang “bộc lộ mọi cung bậc của tâm trạng mình. Có vui, có buồn, có day dứt và có yên tĩnh… song đậm nét hơn cả vẫn là nỗi buồn, là tâm trạng cô đơn” (1)
Các nhà nghiên cứu “nói có sách, mách có chứng”, không thể có những nhận định nào khác hơn trên cơ sở những tư liệu đã xác định. Và như vậy, Huyền Quang hiển nhiên là một “Thiền gia – thi sĩ hay thi nhân – thiền gia” thật đáng kính, đáng trọng!
Tuy nhiên, trong dân gian, những giai thoại, huyền thoại về Huyền Quang lại khá phong phú. Nó chứng tỏ Huyền Quang vừa là vị Tổ đáng kính, lại vừa là một con người còn khá trần tục, rất gần gũi với những người bình thường, do đã biết rung động thực sự trước vẻ đẹp của giai nhân!
Hai thái cực đó, trong một con người mà lẽ ra không nên có, và không thể chấp nhận ở một bậc Thiền sư, ở vào hàng đại diện quốc gia, đã là điều mà trước kia các vị danh nho đã từng luận đàm và bày tỏ thái độ. Tựu trung, sự đánh giá, luận đàm của họ, là nhằm vào bài thơ Giai nhân tức sự mà theo tương truyền, là do Huyền Quang làm, và mối quan hệ của Huyền Quang với nàng Điểm Bích là có thực, khi ông đã ở độ tuổi ngoài sáu mươi!
Những tư liệu trong dân gian có thể những sách trước kia chưa chép, hoặc có chép nhưng đã bị thất lạc. Và do vậy, nếu thử tái hiện lại, có thể có những nhận định khác hơn chăng?
*
Vào thời nhà Trần, ở xứ Bắc có một người học trò nổi tiếng hiếu học tên gọi Lý Đạo Tái. Tuy nhà rất nghèo nhưng chàng vẫn miệt mài theo đuổi nghiệp sách đèn. Âu đó cũng là một cách tiếp nối truyền thống gia đình, vì trước kia ông tổ chàng đã từng giữ chức Hành khiển, ông nội đã từng làm đến Chuyển vận sứ, còn đến đời cha chàng, tuy đã từng khoác áo cầm gươm ra trận, nhưng do “lập công mà chẳng được nên công” nên phẫn chí ở nhà cày ruộng và chịu cảnh bần hàn…! Đến đời chàng, do vậy, chàng phải sửa lại cái nỗi nhục ấy.Chàng học hành rất tấn tới, cha mẹ chàng cũng thật hài lòng. Hai ông bà chẳng quản vất vả gian nan, thường vẫn đi làm mướn lấy tiền thêm cho chàng ăn học. Khi đến tuổi trưởng thành, cha mẹ chàng nghĩ rằng con mình giỏi giang, nay mai có thể công thành danh toại, nên đã đánh bạo đi dạm hỏi cho chàng một đám danh giá trong vùng. Nhà gái vui vẻ nhận lời.
Nào ngờ, đã mấy năm trời sêu tết, lại thường khi phải phục dịch các công to việc lớn bên nhà bố vợ tương lai, thì đùng một cái, ông bố vợ quí hoá lại gả vị hôn thê cho cháu một viên An phủ sứ!
Sau lần bẽ mặt ấy, cha mẹ chàng lại đi dạm hỏi một đám khác, tuy không danh giá bằng nhưng cũng thuộc loại khá giả, giàu có trong làng. Chẳng ngờ, lần này lại còn tệ hại hơn cả lần trước: Khi cha mẹ chàng vừa mở miệng ra thì đã bị nhà gái từ chối thẳng thừng: “Ôi dào… chẳng ai tin cậy được ở cái đồ dài lưng tốn vải…”.
Tuy vậy, Lý Đạo Tái cũng chẳng sờn lòng, vẫn ngày đêm tu chí học tập!
*
Thông thường, với những trường hợp tu chí như thế này thì người ta mong sao cho sau này đỗ đạt, kiếm được tí quan chức, rồi sau đó sẽ lấy những đám danh giá giàu có còn hơn cả những đám trước kia đã từng chối mình.Lý Đạo Tái thừa hiểu như vậy, nhưng chàng đã không làm như vậy!
Chàng đọc cả sách Nho, sách Phật, ngày đêm nghiền ngẫm chúng, và đã tìm cho mình một con đường đi khác, ngay từ hồi còn chưa đỗ đạt!
Tuy nhiên, đã đi học là phải đi thi, ai ai cũng đều như vậy. Và Lý Đạo Tái đã không phụ công cha mẹ: đỗ đầu thi Hội (dân gian còn truyền tụng chàng đỗ Trạng nguyên!).
Vừa hay tin có vị khôi nguyên trẻ tuổi nhưng còn thiếu “võng nàng”, các vị phú ông trong vùng bèn thi nhau nhắn tin muốn gả con gái cho chàng. Lại hứa sẽ cho cả nhà cửa, ruộng nương, lụa là, châu báu nữa.
Một vị quan lớn ở Kinh đô cũng mời bằng được quan tân khoa về thái ấp của mình để xem cho rõ mặt “nàng thục nữ yêu kiều tuổi mới đôi tám”…
Còn ngày chàng vào kinh nhậm chức thì một viên quan nội giám đã đến gặp riêng chàng, nói rằng:
- Hoàng hậu đang kén phò mã cho nàng công chúa thứ ba, nếu quan Trạng ưng ý thì nhất định việc ấy sẽ thành.
Lý Đạo Tái cung kính đáp lời từ chối khéo, cũng như chàng đã nhã nhặn từ chối tất cả những người nhắn nhe mai mối trước đây.
Nhân sự việc này chàng buột miệng đọc hai câu thơ:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ Trạng chín nghìn nhân duyên
Cũng có thể chàng chẳng đọc hai câu thơ ấy, nhưng sự việc chàng từ chối những đám rất mực danh giá thì ai ai cũng biết, do vậy, người ta bình phẩm và đọc nó lên thì cũng là lẽ thường tình, vả lại, hai câu thơ này cũng chẳng đến nỗi khó làm.
*
Đã thừa rõ thói hám lợi hám danh của người đời, nên khi tham dự vào đám quan trường, Lý Đạo Tái chàng những không hứng thú gì mà càng ngày càng tỏ ra chán ngán. Được vài năm thì chàng xin từ chức đi tu, lấy pháp hiệu là Huyền Quang.Ấy là cái ý nguyện mà chàng đã có ngay từ lúc còn đang đi học!
Nhà vua thấy vậy khen chàng là người khác thường mà bảo:
- Kẻ này có con mắt đạo, có thể trở thành pháp khí, đúng là bậc thánh tăng!
Quả là nhà vua, do cũng chuộng đạo Phật, nên đã có con mắt tinh đời.
Huyền Quang tu rất chăm chỉ, chẳng bao lâu, với học vấn tài cao, chàng thông thuộc tất cả các kinh sách của nhà Phật thời ấy. Các tăng ni, phật tử đều yếu mến chàng. Nhà vua và hoàng tộc cũng vì nể chàng. Đạo Phật lúc ấy chưa đến độ suy vi, vẫn còn toả ánh hào quang sáng ngời, tuy không bằng giai đoạn trước với hai vị tổ Điều Ngự (Trần Nhân Tông) và Pháp Loa, nên đang cần có một vị Quốc sư, một người đứng đầu Trúc Lâm viện, để cai quản các tăng ni phật tử, và thế là vị Trạng nguyên trẻ tuổi được xung vào chức vụ này. Đó là một việc làm chưa từng có.
Vua Trần Anh Tông lúc ấy còn là một vị vua trẻ tuổi cũng mới đăng quang chưa lâu. Nghe triều thần có kẻ dèm pha Huyền Quang còn trẻ tuổi như thế, chắc gì đã là một vị chân tu, lại được đứng đầu các hàng tăng ni, phật tử, e rằng thiên hạ trông vào sẽ sinh ra dị nghị. Nhà vua ngẫm nghĩ mấy ngày, rồi sau đó, cho thi hành một mật kế để thử xem đạo đức của vị thiền sư là như thế nào.
Nhân vì mấy ngày Hoàng hậu se mình, nhà vua hạ chỉ triệu Huyền Quang vào cung để làm lễ cầu mát. Công việc xong xuôi, nói là để thưởng công khó nhọc, nhà vua ban cho Huyền Quang mười lạng vàng trước lúc ra về. Thiền sư không tiện từ chối, đành phải cúi đầu tạ ơn rồi cầm lấy. Nào ngờ đó là những nén vàng đã được nhà vua đánh dấu, mà Huyền Quang, do chẳng thiết tha gì đến tiền bạc, nên cũng không để mắt nhìn kỹ.
Mưu kế mà Trần Anh Tông tiến hành để thử Huyền Quang không có gì khác hơn là cử một người con gái đẹp tìm cách đến gần vị Thiền sư để lung lạc về đường diệt dục khổ hạnh. Người con gái được chọn để làm việc này là một cung nữ có tài thơ văn, và đó là nàng Điểm Bích.
Điểm Bích vốn là con một người đàn bà hành khất quê ở huyện Đường Hào thuộc tỉnh Hải Dương bây giờ. Vì không có chồng mà chửa nên được mấy ngày người mẹ đem con cho một gia đình giàu có nhưng hiếm hoi ở trong vùng nuôi. Sắc đẹp và tài năng vốn không chọn hoàn cảnh, cho nên càng lớn Điểm Bích lại càng lộng lẫy, xinh dẹp. Lại nhanh nhẹn và rất sáng dạ nữa. Được bố nuôi cho ăn học, nên Điểm Bích còn giỏi giang, biết chữ nghĩa và làm phú, làm thơ cũng khá hay.
Khi có chiếu chỉ của nhà vua ban xuống về việc chọn mỹ nữ tiến cung, thì Điểm Bích là một trong những người đầu tiên trúng tuyển.
Vào cung, Điểm Bích được vua Trần Anh Tông yêu mến cả sắc lẫn tài, lại được tin dùng, và thường được mọi người ca ngợi là “nữ thần đồng”.
“Nữ thần đồng” chính là người được chọn để đi thử vị Thiền sư trẻ tuổi.
*
Nhà vua giao hẹn với Điểm Bích phải lấy được ít nhất một thỏi vàng trong số vàng nhà vua đã tặng Huyền Quang, để làm bằng chứng.Khi Huyền Quang rời hoàng cung trở về nơi tu hành, thì mấy ngày sau, Điểm Bích cũng lên đường theo sau, trong trang phục một cô thôn nữ.
Hôm ấy, Huyền Quang đang ngồi đọc kinh tại thiền trai. Đây là ngôi nhà nhỏ nấp mình trong lau trúc rất tĩnh mịch mà nhà vua sai cất lên để Thiền sư nghỉ ngơi riêng, sau những ngày hành lễ và giảng kinh ở viện Trúc Lâm mệt mỏi.
Vào khoảng chiều tà, bỗng chú tiểu giúp việc đưa vào trình trước Thiền sư một người con gái có vẻ mặt hốt hoảng và xống áo tơi tả. Chú tiểu thưa:
- Bạch thầy. Người này bị cướp đuổi vừa chạy vừa kêu. Con đã chạy ra và dẫn cô ta vào đây.
Cô gái (chính là Điểm Bích) cũng khóc sướt mướt, kể lại sự tình, rồi xin nhà chùa cho nghỉ lại đêm nay.
Huyền Quang vốn lòng độ lượng, chẳng nỡ chối từ. Vả lại, trời đã tối, xung quanh lại vắng vẻ, cô gái biết đi đâu bây giờ. Thiền sư bèn bảo chú tiểu sắp xếp cho cô gái một chỗ nghỉ ở gian bếp bên cạnh thiền trai.
Đêm ấy, như thường lệ, Huyền Quang vẫn ngồi tụng kinh niệm Phật, mãi tới khuya mà chưa đi ngủ.
Ở gian trái, khi chú tiểu đã lên giường và cất tiếng ngáy nhè nhẹ như mọi lần, thì cũng là lúc, ở bên ngoài thiền trai, có tiếng cô gái rên rỉ. Tiếng rên rỉ mỗi lúc một to khiến Huyền Quang phải bỏ quyển kinh xuống lắng nghe, rồi đi sang gian trái, đánh thức chú tiểu dậy, nói đi hỏi cô gái xem sự thể thế nào. Cô gái nói với chú tiểu rằng mình sợ ma và sợ kẻ cướp bất thình lình lẻn đến, nên không ngủ được. Chú tiểu vào báo. Bất đắc dĩ, Huyền Quang phải nói chú tiểu cho cô gái vào phòng khách nghỉ tạm.
Thiền trai rất đơn giản. Đó là ngôi nhà tranh, hai gian hai trái. Một trái đựng dụng cụ, đồ đạc. Một trái nữa chú tiểu ở, còn hai gian chính thì một là trai phòng của Huyền Quang và một là phòng ăn và chỗ tiếp khách. Phòng này nằm ở giữa.
Chừng lúc lâu sau, khi chú tiểu đã về gian trái ngủ lại, và Huyền Quang cũng thôi không đọc kinh, chuẩn bị đi nằm, thì ở gian khách lại vẳng ra lời cầu cứu khẩn thiết của người con gái. Cực chẳng đã, Huyền Quang lại phải thắp nến và bước ra khỏi trai phòng. Vừa mở cửa, qua ánh nến le lói, Huyền Quang thấy ngay người con gái ăn mặc lả lơi, nên Ngài quay mặt đi, lùi lại trai phòng. Cũng lúc ấy, cô gái (tức Điểm Bích) bật dậy, chạy vào theo. Huyền Quang nghiêm nét mặt lại, hỏi:
- A di đà Phật! Nàng là ai? Tại sao đêm hôm dám đường đột vào đây để quấy rối kẻ tu hành? Nếu không mau mau cải tà quy chính, ta sẽ hô hoán lên, chú tiểu sẽ cầm lá dắt tay ra khỏi đây ngay bây giờ.
Thấy không thể lung lạc được Thiền sư, Điểm Bích đã kín đáo sửa lại trang phục và đổi ngay sang thái độ khác. Nàng ta vội vàng quì xuống rồi khóc lóc như mưa, vừa khóc vừa kể lại nguồn cơn “gia cảnh” nhà mình.
Nàng cung nữ sáng dạ được vua yêu chiều, do chuẩn bị từ trước, đã bịa hẳn ra một câu chuyện như thật. Nàng kể rằng cha nàng làm quan ở một huyện vùng duyên hải. Mùa tháng năm vừa qua cha nàng đi thu thuế được ba ngàn quan, cho lính tải về kinh, nhưng dọc đường bị bọn cướp đón đường cướp sạch. Quan trên thương tình cho cha nàng khất lại đến cuối năm. Hiện nay gia đình nàng đã bán hết tư trang điền sản nhưng mới bù được một nửa, còn một nửa nữa, nay phải chia ra mỗi người mỗi nơi đi quyên góp cho đủ.
Tiếng khóc của nàng càng làm cho câu chuyện kể thêm phần lâm ly, thống thiết. Huyền Quang lắng nghe rồi trả lời:
- Thôi nàng đừng khóc nữa. Ngày mai ta sẽ tiến triều, tâu với nhà vua, xin tha tội cho cha nàng.
Không ngờ câu chuyện lại xoay ra như thế, Điểm Bích vội vàng khóc to thêm lên, rồi vừa lạy vừa xin:
- Bạch hoà thượng! Bạch hoà thượng! Xin hoà thượng chớ vội lên kinh. Chỉ sợ đến tai Hoàng thượng thì chẳng những việc không thành mà có khi còn liên luỵ đến cả quan trên của cha thiếp nữa. Thiếp chỉ xin Hoà thượng rủ lòng thương, cho cha thiếp ít tiền bạc để lo tiếp công việc thôi ạ.
Huyền Quang chợt nhớ có mười nén vàng nhà vua cho chưa biết làm gì, bèn đến bên bàn cầm lấy rồi đưa cả cho Điểm Bích:
- Ta hiểu. Ta hiểu. Không có bằng chứng rõ ràng thì khó xin nhà vua lắm. Thôi ta gửi biếu cha nàng số vàng này. Mong cha con nàng sớm được tai qua nạn khỏi.
Điểm Bích cúi đầu tạ ơn, rồi cầm lấy túi vàng, đoạn, quay ra phòng khách.
*
Ba ngày sau Điểm Bích trở về cung, đưa nộp mười nén vàng rồi tâu với nhà vua rằng mình đã hoàn thành sứ mạng. Để nhà vua tin, Điểm Bích còn đọc lên một bài thơ nói là của Huyền Quang đã làm để tặng mình trước khi phá giới. Nguyên bài thơ đó như sau:Vằng vặc trăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
Người vừa tươi tốt, cảnh vừa lạ
Mâu Thích ca nào chẳng hữu tình.
Sẽ nói đến bài thơ này ở phần sau. Chỉ biết lúc này nghe xong câu chuyện, lại nhìn thấy mười nén vàng có ghi dấu trước khi tặng Huyền Quang, nhà vua lắc đầu buồn bã: “Đạo Phật mà các vị tiên vương, các vị hoàng thân quốc thích từng sùng mộ, ngày nay đã đến độ suy vi rồi sao?”
Hiểu ý, một viên quan chờ khi Điểm Bích lui gót, liền ghé tai nhà vua hiến kế:
- Tâu Bệ hạ. Xin Bệ hạ cho lập một lễ cúng Phật dọn toàn cỗ mặn, rồi mời thầy về làm lễ. Nếu quả là thầy còn trong sạch thì chư Phật sẽ độ cho cỗ mặn hoá chay, còn nhược bằng thầy đã hư hỏng rồi, thì chẳng bao giờ Phật độ cho được nữa.
Nhà vua cho là phải, bèn hạ chỉ cho vời Huyền Quang về kinh để thiền sư làm chủ tế trong buổi lễ trọng thể vào dịp rằm tháng Bảy sắp tới, mà dân chúng vẫn gọi là lễ “xá tội vong nhân”.
*
Trái hẳn với tục lệ hàng năm, năm ấy, theo lệnh nhà vua, cỗ chính cúng Phật rằm tháng Bảy không bày biện tiệc chay, mà giết trâu, bò, lợn, gà,… để cúng. Quái lạ hơn, xung quanh lễ đài nhà vua còn sai căng toàn lụa nhuộm màu vàng.Khi vừa bước tới lễ đài, Huyền Quang đã hiểu ngay là nhà vua cố ý hạ nhục mình: Chỗ nào cũng lụa vàng (hoàng quyến). Lụa chẳng căng lên cao mà lại cho loà xoà quệt cả xuống đất. Chẳng cần phải là đại khoa, mà ngay cả những người học hành đôi chút, cũng thừa biết Hoàng Quyến là Huyền Quáng, tức cũng là “Huyền Quang có nhuốm sắc”. Một lời buộc tội thật rõ ràng.
Lại nữa, khi bước vào lễ đài thăm lễ vật, Huyền Quang chẳng thấy cỗ chay đâu mà thấy toàn là cỗ mặn. Đích thị lại thêm một sự phỉ báng nữa thật phũ phàng.
Huyền Quang thoáng nghiêm nét mặt, nhưng ngay lập tức lại thản nhiên như không, bảo đệ tử thắp hương, rồi bước lên đàn tràng, lớn tiếng khấn:
- A di đà Phật! Xin Trời, Phật chứng giám, phù hộ độ trì. Kẻ đệ tử này có làm điều gì bất chính, xin chư Phật cho đày xuống địa ngục âm ty, còn nếu không, thì xin cho lụa vàng bay đi và những cỗ mặn kia hoá thành cỗ chay.
Lạ thay, khi Huyền Quang vừa dứt lời, tự nhiên trời đất tối sầm, một trận cuồng phong hung dữ nổi lên. Phút chốc, đèn nến trên đàn tràng phụt tắt, tất cả lụa vàng quấn quanh lễ đài đều rách nát tả tơi, rồi theo chiều gió cuốn đi vương vãi khắp nơi.
Một lúc lâu sau, khi cơn bão tan, đèn nến được thắp sáng lại, tất cả mọi người có mặt đều vô cùng ngạc nhiên, thấy cỗ tiệc mặn đã biến thành cỗ chay, và Thiền sư Huyền Quang vẫn đang đứng uy nghiêm giữa đàn tràng, tựa như một vị Bồ tát hiển hiện. Vị Bồ tát ấy tiếp tục đọc kinh rồi lễ tạ Trời Phật. Xong, Ngài thong thả bước ra khỏi đàn tràng.
Dân chúng và quân lính, những người vốn rất đông đảo, từ đầu đã có mặt và chứng kiến toàn bộ sự việc, lúc ấy bèn nhảy lên reo hò, rồi gõ trống, phách liên hồi làm vang động khắp cả kinh thành.
Có tên lính chạy về nội cung phi báo, vua Trần Anh Tông lúc ấy đang ngồi trong trướng phủ, mặt tái đi, rồi lập tức sai xa giá tới chỗ Huyền Quang vừa hành lễ để nói lời tạ lỗi với Thiền sư.
Sau đó, nhà vua hạ lệnh bắt ngay cung nữ Điểm Bích tống vào ngục, rồi giao cho quan Thái giám xét hỏi. Mấy ngày sau, Điểm Bích phải cung khai gốc gác, lai lịch của mình, và cung khai tất cả các việc đã diễn ra ở thiền trai mấy hôm trước.
Khi lời cung được thỉnh đến nhà vua. Ngài nổi giận khép Điểm Bích vào tội chết. Hay tin, Huyền Quang liền vào cung, xin nhà vua tha tội cho nàng. Trần Anh Tông thừa hiểu lỗi chính trong việc này là do mình, nhưng vì giữ thể diện và cũng là nể lời Thiền sư, nên đã giáng Điểm Bích xuống hàng nữ tỳ, cho theo hầu ở chùa trong cung Cảnh Linh.
Trong Vũ trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ – một danh sĩ hồi cuối Lê đầu Nguyễn cách đó gần năm trăm năm, còn kể hồi bé ông được nghe kể chuyện về Điểm Bích, và còn biết chỗ người ta đào được mộ của nàng.
*
Việc một nhà tu hành lâu năm có nhiều thuật pháp, đã hô phong hoá vũ (gọi gió làm mưa) rồi biến cỗ mặn thành cỗ chay như Huyền Quang đã làm, là một mô-típ vẫn thường gặp trong truyền thuyết và các câu chuyện kể dân gian. Nhưng nếu lấy con mắt hiện thực mà nhìn vào sự kiện này, thì phần nào ta cũng có thể hiểu được. Chẳng hạn, nhân cơn gió làm cho tắt đèn nến, các đệ tử đông đảo của Huyền Quang có thể xông lên (nếu đèn nến chưa tắt thì họ có thể thổi cho tắt hết!), họ giật các tấm lụa xuống xé ra hoặc giấu đi rồi lấy cỗ chay đã được chuẩn bị từ trước (tin tức làm cỗ mặn họ nhận được chắc không khó lắm!) để thay thế vào cỗ mặn. Xong xuôi, họ lại thắp đèn nến sáng lại như cũ!Và nếu sự việc diễn ra như vậy thì đã chứng tỏ rằng lực lượng ủng hộ Huyền Quang là khá đông đúc, và do vậy, cũng chứng tỏ, uy tín của Huyền Quang trong đệ tử và dân chúng là rất cao!
Một người có uy tín như vậy chẳng lẽ lại sa ngã đến mức cưỡng bức một cô gái trẻ khi bên mình có đệ tử và mình đã ở độ tuổi ngoài sáu mươi, trong khi người đó, ngay từ lúc tuổi trẻ đã chối từ không lấy cả công chúa và nhiều đám danh giá giàu có khác?
Sự kiện Huyền Quang hồi trẻ từ chối những nơi hôn phối giàu sang quả là chưa từng có. Nhiều người thán phục, và dĩ nhiên, cũng có những người tức tối. Những người tức tối mà có quyền thế ắt hẳn sẽ gièm pha hoặc có những hành vi thế này thế khác, như việc “thử” Huyền Quang chẳng hạn.
Việc Huyền Quang nhận 10 nén vàng (có thuyết còn nói 20 nén) của nhà vua tặng cũng bị dị nghị là “tham”. Nhưng đó là một sự dị nghị (hoặc buộc tội) quá đáng. Bởi lẽ, một người đã từ chối lấy vợ giàu, lại từ quan để đi tu thì chẳng lẽ không chứng tỏ người ấy chả thiết tha gì đến tiền bạc hay sao? Nhận vàng, và nhận nhiều, của nhà vua tặng, để cho tăng ni phật tử hay làm việc từ thiện thì có gì là xấu? Còn ngược lạì nữa là khác.
Bài thơ Giai nhân tức sự, đầu đề chữ Hán nhưng nội dung lại là chữ Nôm, đã dẫn ở phần trên, có thể có các giả thiết sau đây:
- Hoặc là bài thơ của Điểm Bích (vì Điểm Bích cũng giỏi chữ nghĩa, là “nữ thần đồng”) hay của một người nào đó, cũng khá tài hoa, lại từng đọc thơ Huyền Quang, đã làm (vì Điểm Bích và một vài người nào đó có đủ thời gian để sắp đặt và làm việc này).
- Hoặc là bài thơ của Huyền Quang đã làm thật. Vì Điểm Bích đêm đó đã ở trong phòng khách. Nếu đêm đó có đèn nến thì biết ngay chỗ để các tập thơ của Huyền Quang! Hoặc giả, nếu không có đèn nến thì sáng hôm sau cũng có thể biết. Thông thường, các vị chức sắc ngày xưa (vua, quan) và chức sắc tôn giáo đều có làm thơ, nhưng trong quan niệm giữa việc riêng việc chung của họ vốn rất rõ ràng, cho nên có thể cho rằng Huyền Quang đã làm thơ và để thơ ở ngoài phòng khách, còn trong trai phòng thì chỉ dành riêng cho sách Phật và sự tụng niệm.
Bài thơ mà Điểm Bích đã đọc cho vua Trần Anh Tông nghe và nói là của Huyền Quang tặng mình ấy, cũng khá “đa nghĩa”.
- Một nghĩa có thể hiểu ở khía cạnh trần tục, ở sự khêu gợi dục tình: trăng, gió, nước đều khêu gợi, cảnh thì lạ, mà người thì ở trạng thái khá “tự nhiên”: tươi tốt. Do vậy, câu cuối chẳng những hạ thấp Huyền Quang mà còn hạ thấp cả đạo Phật: Mâu Thích ca nào chẳng hữu tình – nghĩa là cũng bị cám dỗ cả!
Nếu hiểu ở nghĩa trần tục này thì khó có thể chấp nhận đấy là bài thơ của Huyền Quang khi ông đã là vị Thiền sư ở bậc cao nhất!
- Một nghĩa khác, rộng hơn, có thể hiểu: bài thơ muốn đạt tới một cái đẹp tuyệt đối, một sự hoà hợp tuyệt đối!
Trăng, gió, nước, cảnh vật vừa khêu gợi vừa tuyệt đẹp. Còn con người tươi tốt thi không nhất thiết cứ phải là con người đẹp ăn mặc hớ hênh mà còn là con người đẹp nhưng ăn mặc chẳng hớ hênh. Và như vậy, câu cuối cũng có thể hiểu: người sáng lập đạo Phật và những người theo đạo Phật chẳng bao giờ vô tình với cái đẹp, cái đẹp của thiên nhiên cũng như cái đẹp của con người.
Từ đó, có thể thấy ở đây con người và thiên nhiên là vô cùng hoà hợp, trong một cái đẹp thật lí tưởng. Những người theo đạo phật chỉ chủ trương diệt dục và không có quan hệ giới tính chứ chưa bao giờ tuyên bố từ bỏ cái đẹp, từ bỏ mỹ cảm cả. Vả lại, nếu quan sát các pho tượng Phật ta sẽ thấy, trừ quỉ Sa tăng và một vài nhân vật dữ tợn khác, còn lại tất cả đều chẳng là những hình dáng, khuôn mặt đẹp và phúc hậu đó sao?
Và nếu chấp nhận cái hiểu ở khía cạnh này thì có thể cho rằng Huyền Quang đã làm bài thơ này, và đó là bài thơ tuyệt tác, xứng đáng với một vị Thiền sư – đại khoa có uy vọng bậc nhất!
Điểm lại những đặc điểm nội dung chính của tập “Ngọc Tiên” ta sẽ thấy Huyền Quang chưa một lần quan trọng hoá địa vị và công việc của mình, trái lại, đã có lúc ông còn tự trào về địa vị và công việc đó nữa. Ông đánh giá tâm tư tình cảm con người bất hạnh và những thăng trầm nhân thế là xuất phát từ con tim, khối óc của người đã từng chịu đựng, đã từng nghiền ngẫm, lại đã từng vượt qua, theo cái đích hướng thiện của một đại tri thức và của một đại tín đồ đạo Phật. Thiên nhiên trong thơ Huyền Quang không những đẹp, tinh tế, mà luôn luôn có hồn, gắn bó mật thiết với con người.
Như vậy, nếu xét một cách hệ thống, ở Huyền Quang, từ hành vi, ứng xử, đến thơ ca, ta thấy có một sự thống nhất không thể chia cắt và theo một định hướng rõ ràng – đến cái tuyệt đối. Những cái đó đều thuộc loại “ngoại cỡ” trong thời đại của ông, và có lẽ không chỉ trong thời đại của ông!
Từ ông nảy sinh ta nhiều truyền thuyết, huyền thoại, chẳng những trong dân chúng mà ngay cả trong giới có học, đỗ đạt cao và nắm giữ những chức vụ quan trọng trong xã hội trước kia. Và đã có nhiều cách bình luận khác nhau.
Tầm vóc tinh thần và bản lĩnh của Huyền Quang đến nay vẫn còn là đề tài để mọi người suy ngẫm và lý giải, mặc dù đã bảy thế kỷ trôi qua…
(1) Đây là những nhận định đánh giá của PGS. TS Trần Thị Băng Thanh, trong bài “Huyền Quang và những trang đời nhiều huyền thoại, những vần thơ nhiều hàm nghĩa”. TCVH, số 3, 1994. tr.26 – 29
* Nguồn:NHÌN LẠI LỊCH SỬ, nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin, Hà Nội 2003, Tác giả: KS. PHAN DUY KHA – TS. LÃ DUY LAN – TS. ĐINH CÔNG VĨ.
Cùng tác giả: + 189. NGƯỜI PHỤ NỮ BA LẦN LÀ HOÀNG HẬU VÀ VỤ ÁN LỊCH SỬ: AI GIẾT VUA ĐINH?; + 191. MỘT BÀ PHI THAY THỂ THỦY THẦN; + 192. THÁI HẬU Ỷ LAN – HAI BỀ CÔNG TỘI; + 193. VỊ ĐÔ NGỰ SỬ TRUNG THỰC, THẲNG THẮN; + 194. CHUYỆN THÁM HOA VŨ PHẠM HÀM; + 195. LAI LỊCH “TRẠNG CẬU TRẠNG CHÁU” VÀ CÁC VỊ TỔ XA ĐỜI CỦA THI HÀO NGUYỄN DU; + 196. CHUYỆN XỬ ÁN CỦA QUAN ĐỐC TRẤN SƠN TÂY: HOÀNG GIÁP NGUYỄN MẠI; + 197. VÀI MẨU CHUYỆN VỀ ĐÌNH NGUYÊN THÁM HOA NGUYỄN MINH TRIẾT; + 200. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG SINH THÁI – NHÂN VĂN VÀ SỰ HÌNH THÀNH NỀN VĂN MINH LÚA NƯỚC CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ; + 201. Sự tích mưa ngâu; + 202. SỰ TÍCH RÉT NÀNG BÂN; + 203. SỰ TÍCH TRẦU CAU; + 204. SỰ TÍCH BÁNH CHƯNG, BÁNH DẦY; + 205. SỰ TÍCH QUẢ DƯA HẤU; + 206. NHẤT DẠ TRẠCH; + 207. NGỌC TRAI, NƯỚC GIẾNG; + 208. THÁI TỔ LÝ CÔNG UẨN; + 209. ĐÔ THỐNG THƯỢNG TƯỚNG QUÂN LÊ PHỤNG HIỂU; + 210.UY MINH VƯƠNG LÝ NHẬT QUANG; + 211. VIỆT QUỐC CÔNG THÁI UÝ LÝ THƯỜNG KIỆT.
* Phát động cao điểm phòng chống trộm cướp
* Một số vụ cướp táo tợn trong 3 ngày qua
>> Táo tợn chặt tay người đi đường cướp tài sản
>> Đừng để cướp lộng hành!
Thứ ba, ngày 27 tháng mười một năm 2012
Từ Blog Nguyễn Thông: Văn nghệ cuối đường hầm
http://thongcao55.blogspot.com/2012/11/van-nghe-cuoi-uong-ham.html
Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, chưa bao giờ nền văn nghệ nước nhà nói chung, văn học nói riêng, lại đen tối, bế tắc, bi đát, thảm cảnh... đến như hiện nay.Chỉ tính từ cách mạng tháng tám 1945 tới nay thôi, văn học xứ ta đã từng đặt những dấu ấn sâu đậm trong lòng người và thời đại. Tôi không có kiến thức cần đủ về văn học miền Nam trước 1975 nên không dám bàn mảng đó, chỉ riêng văn học miền Bắc trước 75 và cả nước sau 75 đã gây cho tôi những quý mến đặc biệt. Đóng góp của văn nghệ sĩ, nhà văn vào sự phát triển của cuộc sống đương nhiên không cần bàn cãi.
Đã một thời, văn nghệ như thánh đường nghiêm cẩn, thiêng liêng, cao quý, ai bước chân được vào đó coi như tạo được cái tiếng hãnh diện với đời. Chả nói đâu xa, chỉ đăng được bài thơ, cái truyện ngắn trên tờ Văn nghệ là đã xem như lập được kỳ tích rồi, chứ nếu đoạt giải này nọ của thi thơ, thi truyện do Văn nghệ tổ chức thì chẳng cần phải đăng đàn diễn thuyết đã được làng văn xếp hạng chiếu trên, thậm chí ngồi cao ngất ngưởng, vua biết mặt chúa biết tên, thiên hạ ngắm nhìn ngưỡng mộ, kính phục. Cái thời ấy, dù nền văn nghệ vẫn bị chèo lái, uốn éo theo lối phải đạo nhưng trong chừng mực nào đó, tự thân nó tạo ra giá trị, khiến người ta không thể hạ nhục, xem thường. Tôi chắc rằng những người làm báo Văn nghệ hồi ấy chẳng thể nào quên được những năm tháng vinh quang, sản phẩm chưa ra lò đã bao bạn đọc mong ngóng, vừa bày lên sạp đã hết veo, một tờ báo người ta chuyền tay nhau đọc đến nát từng trang... Những tên tuổi một thời của văn học nước nhà Thái Giang, Nguyễn Bùi Vợi, Võ Văn Trực, Nguyễn Đức Mậu, Phan Thị Thanh Nhàn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Huy Thiệp... nổi lên, được cả nước biết tới cũng nhờ bệ phóng Văn nghệ.
Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu.
Vừa rồi, đọc bài của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi thấy anh than và giận, và tiếc nuối trước việc bác Hữu Thỉnh quyết định sáp nhập, đóng cửa, đình bản, chấm dứt tờ tạp chí Nhà văn, một trong 3 cơ quan ngôn luận trực thuộc Hội Nhà văn. Nghe ra ngậm buồn, nhưng biết thế nào. Em mà cương vị bác Thỉnh, có nhẽ em đóng cửa nó lâu rồi, ít nhất cũng sau khi nó danh nghĩa đứng ra tổ chức cái hội thảo thơ Hoàng Quang Thuận đầy tai tiếng. Mà chả riêng thằng Nhà văn, ngay thằng Văn nghệ (gồm cả Văn nghệ trẻ) đang do bác Huân cầm trịch, rồi tạp chí Thơ, tạp chí Văn học nước ngoài, em cho out tất. Mấy cái cục nợ kiểu Vinashin đó, tồn tại mà không tự nuôi nổi mình, ăn mãi vào vốn, suốt ngày há mồm chờ sữa vú dân nuôi nhỏ giọt vào để cầm hơi, sản phẩm làm ra ế rệ trên sạp, bán chẳng ai mua, ít người quan tâm, chính giới văn nghệ cũng không thèm đọc, không giải thể sớm, càng để càng chết, thành gánh nặng. Thời bây giờ vẫn làm báo theo kiểu bao cấp, chờ chỉ đạo, uốn theo định hướng, vẫn tán tụng ngợi ca, vẫn nhắm mắt bịt tai trước hiện thực chát chúa xô bồ, chưa chết mới là lạ. Thương là thương những người như bác Nguyễn Trí Huân, có tâm có trí nhưng bị vướng cái thời, lại thiếu chút dũng khí như Nguyên Ngọc, chỉ biết ngậm ngùi nhìn tờ báo chết dần chết mòn, nhích dần vào tử huyệt.
Một nền văn nghệ cuối đường hầm vì nó quá nặng căn với cái cũ không dứt ra được, thiếu những người chèo lái giỏi giang tài ba, bản lĩnh, liệu mò mẫm trong bóng tối đến bao giờ? Không ai đem ánh sáng cho nó nếu nó không tự tìm ra vùng ánh sáng.
Há miệng mắc quai
BÁ TÂNNguyễn Thông
Thầy ư, phó giáo sư ư ?
Nếu chuyện không có thật (bởi vì báo chí dạo ni rất hay bịa) thì cơ quan chức năng, trước hết là Ban Tuyên giáo và Vụ Báo chí-xuất bản cần nhắc nhở và có biện pháp xử lý tờ báo trên, bởi làm xấu đi hình ảnh người thầy, người trí thức (giáo sư, phó giáo sư) nước nhà.
Nếu đúng như tác giả và tờ báo phản ánh, có nhẽ chả chần chừ gì nữa mà không làm việc với vị phó giáo sư mất nết ấy. Thầy kiểu vị này đang hơi bị nhiều, bớt đi một con sâu cũng đỡ xấu phần nào cho vườn học thuật, giáo dục nước nhà.
Tôi từng nhiều năm dạy học, cũng từng dạy cho sinh viên năm cuối ĐH KHXH-NV về báo chí, mỗi lần lên bục giảng đều tự nhắc mình phải đúng tư cách người thầy, thiếu micro tự tìm micro, bảng chưa xóa tự tay xóa bảng, không một lần rủ rê học trò ăn nhậu, chơi bời... nên không tưởng tượng được trên đời lại có thầy giáo, giảng viên, giáo sư như vậy. Chả nhẽ đạo học thời nay nát đến thế sao? Nghe đâu vị được phản ánh dưới đây là giảng viên một trường rất lớn ở Hà Nội mà một ông bạn tôi, thầy Vũ Đức Nghiệu đang làm quản lý tại đó. Xin thầy Nghiệu lưu tâm, đừng để con sâu làm rầu nồi canh, thầy ạ.
Ngậm ngùi vì thầy... sang quá
HỒNG CHÂM
Nghe cán bộ giáo vụ khoa báo tin tuần lễ tới, lớp sẽ học môn của một PGS có tên là S ở Hà Nội vào thỉnh giảng, sinh viên lớp báo chí năm thứ tư của trường đại học nọ mừng rơn. Chỉ vì từ đầu năm học tới giờ, toàn phải lên lớp theo thời khóa biểu chính khóa do các GV ở trường dạy.
Được học với giáo viên thỉnh giảng có phần mới mẻ, đỡ gò bó về giờ giấc; thêm nữa, giáo viên thỉnh giảng thường có tay nghề, nhiều vốn sống thực tế. “Tiếp cận với họ chẳng bổ bề dọc, cũng bổ bề ngang”, GV chủ nhiệm lớp đã từng nói một cách hóm hỉnh như vậy! Phó giáo sư S có thâm niên ở một trường đại học thuộc hàng quốc gia, thế nào học môn của thầy cũng bổ ích, lý thú.
Giây phút chờ đợi rồi cũng đã đến! Vị PGS nọ bước vào lớp, dáng dấp phương phi và bước chân đường hoàng, đĩnh đạc. Vừa ngồi vào bàn giáo viên, thầy đã đảo mắt quan sát khắp lượt phòng học và chê bai trang thiết bị ở đây “nghèo” quá. “Thời buổi bây giờ tất cả phải công nghệ cao. Công việc của tôi hàng ngày quá nhiều, nên lúc nào máy móc, phương tiện phục vụ cũng phải chỉnh chu”- Thầy nói với chất giọng lơ lớ xứ Nghệ, rồi giở chiếc máy vi tính mới toanh ra để trên bàn và hỏi cả lớp: “Wifi cắm ở đâu các em?”. Học sinh ở bên dưới bắt đầu “ mắt tròn mắt dẹt” nhìn nhau. Rồi thì lớp trưởng đứng lên “Thưa thầy, Wifi là mạng không dây, chỉ cần gõ mật mã Password là được ạ”. Rắc rối, “quật” với chẳng “quộc”, thời buổi hiện đại mà rắc rối ! Ở phòng làm việc của tôi la liệt máy móc nên chỗ nào cũng phải có ổ ắm tiện lợi cả ”.
Tiếp đó, thầy “con cà con kê” về chuyến bay từ Hà Nội vào, ở đâu, ăn gì, làm gì từ tối hôm qua tới giờ. Rồi thầy ghi lên lớp tên bài giảng cùng đề mục một la mã –“Khái niệm”; thầy mở giáo trình ra “lua” một mớ định nghĩa, con số và những lời phát biểu của triết gia này, triết gia nọ, bảo học sinh phải chép vào đầy đủ, bởi “môn học của tôi không có sẵn tài liệu đâu đấy nhé. Muốn có tài liệu thì phải biết điều, phải năng động”... Trong lúc học sinh còn hí hoáy “toát mồ hôi” cũng không chép kịp thì thầy đã kể chuyện bên Tây, bên Tàu; toàn những chuyện mà thầy cho là “sang trọng hơn hẳn bên ta”.
Không khí lớp học trầm lắng. Thầy bảo: “ Thầy dạy ở đâu học sinh cũng tập trung học răm rắp chứ không có lơ tơ mơ. Nhưng học là học mà chơi là phải chơi cho ra trò, thì tinh thần mới khỏe khoắn. Đàn ông thì phải như cụ Lý Bạch ở Trung Quốc hay chí ít ra cũng như cụ Nguyễn Công Trứ của ta mới là sang! Tối hôm qua thầy đi dạo một mình ngoài phố, buồn thênh thang. Cánh mày râu lớp này tối nay mời thầy đi chơi một bữa cho ra trò nhé!”...
Thầy bước ra khỏi lớp rồi, lớp trưởng bảo cả lớp phải ngồi lại để hội ý. Bàn qua, cãi lại mãi vẫn không định được là phải nộp mỗi người bao nhiêu để cánh SV nam đưa thầy đi chơi là vừa. Thôi thì cứ gom góp mà ứng trước đi vậy!
Tối hôm ấy, cánh SV nam tới khách sạn để rước thầy. Sau khi đưa thầy đi dạo một vài thắng cảnh thì thầy bảo tìm một nhà hàng “víp một chút” để thưởng ngoạn đặc sản. Thầy gắp nhắm, cụng ly liên tục. Mấy SV nam được “đề cử” tiếp thầy từ trước cũng phải gắp nhắm, cụng ly theo thầy. May quá, đúng vào lúc SV nào, SV nấy cảm thấy ngà ngà hơi men thì thầy bảo “stop” để đưa thầy đi massage thư giãn, có sức khỏe mai lên lớp “chiến đấu” tiếp.
Cánh SV nam đã tản mạn ra về, chỉ còn có lớp trưởng và lớp phó ngủ gà, ngủ gật, chờ thầy ở ngoài phòng massage. Tưởng thế là đã trọn vẹn trách nhiệm với thầy. Ai ngờ khi thầy bước ra, lại có mấy cô nhân viên trẻ trung, xinh đẹp ra bảo trả tiền “bo” cho thầy. Lớp trưởng, lớp phó nhìn nhau vì tiền đưa thầy đi chơi đã cạn rồi. Nhưng không còn cách nào khác là phải bỏ thêm tiền túi cá nhân lớp trưởng, lớp phó ra để mà “bo” giúp thầy. Lòng ngậm ngùi vì nỗi…thầy chơi sang quá!
Tôi hỏi lại các em SV rằng, tại sao nhà trường đã thực hiện chủ trương lấy ý kiến phản hồi của người học của Bộ mà SV lại không phản ánh sự việc bất bình ra trình bày với lãnh đạo khoa của trường, thì các em bảo, sợ phản ánh sẽ bị thầy trù dập, không cho đủ điểm thi hết môn, hơn nữa nghe đâu thầy S lại có quan hệ “dây mơ, rễ má” gì đấy với một cán bộ của khoa. Sự thật này với tôi thật sự đột ngột ! Có người còn chỉ cho tôi tâm sự não nùng của một SV trên Facebook: “ Ở khoa của chúng tôi, các thầy cô giáo, kể cả một vài GV được mời thỉnh giảng cũng rất giản dị, gần gũi với SV, thương SV lắm. Nên chúng đâu có ngờ người có học hàm, học vị đầy mình như giáo sư S lại “ bắt chẹt” sinh viên đến thế”.
Đã từng được may mắn tiếp cận với nhiều cán bộ, giảng viên rất đáng kính, chuẩn mực từ tác phong, lối sống tới năng lực giảng dạy, chính tôi cũng khó ngờ kiểu giáo viên như Phó giáo sư S vẫn còn tồn tại nơi giảng đường đại học. Mong sao qua mẩu chuyện này, nỗi niềm khó nói của SV khoa báo chí kể trên đến được với tất cả, trong đó có Phó giáo sư S…
26 nhận xét:
Muốn thành hay chữ phải yêu lấy thày.
Yêu thế này thì...bỏ cả cha lẫn mẹ.
mở về vị PGS.TS S.với đồng môn năm thứ 4,chứng tỏ lão S.
đã rất nhiều lần vi phạm đạo đức nghề nghiệp.Một con chó
chết đang bốc mùi trong ngành trồng người.Không S.,X.gì
nữa,hãy gọi đích danh lão,nơi lão hành nghề,lôi lão ra
ánh sáng để nhân dân,công luận ị vào mặt lão!
Nhưng lôi được đám này ra trước công luận khó lắm.
Cũng như tham nhũng, ai cũng thấy, ai cũng biết mà không làm gì được chúng; ngay gọi tên thật nó ra cũng không dám, nói gì trị nó.
Thôi, cái nghiệp chướng của dân vn mìnnh như thế mà
Cách đây hơn chục năm, chúng tôi cũng từng là "nạn nhân" của ông này khi ông vào dạy thỉnh giảng chúng tôi ở trường ĐH KH Huế. Sau này, tôi có nghe nhiều sinh viên từng là học trò của ổng ở ngay trường ổng dạy và vài trường khác ông này đến thỉnh giảng đều khiếp đảm vì sự "mất dạy" của ổng khi ổng bắt sinh viên phải chiều ổng đủ thứ, từ ăn uống, chơi bời... Nói chung, ông này không hề có tư cách dạo đức của một người thầy giáo.
Thế nhưng, dù rất nhiều thế hệ sinh viên bị hành hạ bởi một giảng viên có tư cách "mất dạy" như vậy nhưng lạ là ổng vẫn được phong hàm phó giáo sư hẳn hoi. Nghe đâu, đã từng có nhiều sinh viên không chịu nổi đã từng làm đơn tố cáo lên trường nơi ông này công tác nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó. Quá buồn!
Muốn trị mấy khứa gs dzởm này không khó: cứ chiều cho tới bến rồi chụp lại vài kiểu chơi bời, massage, quay vài clip ngắn ăn tục nói phét, phát ngôn hạ cấp, ... đem post lên Youtube cho bà con xem chơi là ... đi đời ngay.
Làm cho bõ ghét, làm cho chừa hoặc là để đập vào mặt mấy lão cùng phe nhóm cho hết đường hành hạ, bóc lột sinh viên.
http://ussh.vnu.edu.vn/pgs-ts-duong-xuan-son/437
4:20, 22/11/2012
Dành dụm được 15 triệu đồng, Chiêu Dương đưa hết cho một gã đàn ông tự xưng là “bầu show nghệ sĩ”. Gã bảo: “Ờ, em! Với 15 triệu này, em sẽ là diễn viên độc quyền của công ty. Em có thể thoải mái đi phim và cứ chờ được nổi tiếng”. Đương nhiên, gã là dân lừa đảo.
Sài Gòn, có lắm kẻ lừa lọc mang danh nghệ thuật. Kẻ lừa lọc vĩ đại nhất đã trở thành tiến sĩ nghệ thuật, còn những kẻ lừa lọc tép đồng kiểu này thì chẳng bao giờ biến thành tôm hùm được.
Mất 15 triệu, đổi lại Chiêu Dương có được mối quan hệ với một đạo diễn có danh… Cũng từ đây, Chiêu Dương bắt đầu thấm đòn với những mảng tối phía sau phim trường.
1. Chiêu Dương ngồi với tôi ở quán cà phê ngay góc đường Nguyễn Cư Trinh - Trần Đình Xu, quận 1 giữa trưa cuối tuần. Chiêu Dương không buồn, mà đang cáu, rất cáu.
Vậy mà, quay xong 30 phân đoạn, ổng nói, tiền cát-sê của em là đúng một triệu đồng. Mà anh biết, phim này của ai không?
“Em không nói sao anh biết được”, tôi trả lời.
“Phim của công ty T.Đ., do chị K.T.T. làm chủ đó”, Chiêu Dương nói.
K.T.T là diễn viên có danh. Ngoài đời, K.T.T. rất đẹp. Chồng K.T.T. là một gã Việt kiều lắm điều tiếng, toàn liên quan đến chuyện luyến ái với các cô gái đang hy vọng về nghề diễn.
Nghe đạo diễn nói về mức cát-sê thấp khủng khiếp đó, Chiêu Dương đòi gọi điện thoại cho K.T.T. để than phiền. Gọi là than phiền thôi, chứ thật ra là để xin thêm một ít. Đạo diễn vội vã gạt ngang: “Thôi, em để đó anh gọi cho”.
Ít lâu sau, đạo diễn bảo với Chiêu Dương : “Anh gọi điện cho Việt kiều chồng của K.T.T. rồi, Việt kiều nói là thương em tiền ít quá. Việt kiều sẽ cho em thêm tiền, nha”.
Đạo diễn vừa dứt lời, thì Việt kiều gọi cho Chiêu Dương, Việt kiều ậm ờ. Anh biết, theo nghề diễn khổ lắm. Anh biết, em cũng đang kẹt lắm. Ừ, ngày mai em ra khu Cư xá Bắc Hải cà phê với anh, nha. Trình bày cho anh nghe, rồi anh cho em thêm tiền cát-sê.
Đúng hẹn, Chiêu Dương có mặt tại quán cà phê. Cũng đúng hẹn, Việt kiều ngồi đó cùng Chiêu Dương. Việt kiều nói đủ chuyện trên trời dưới đất, nhân nghĩa hiện kim, đại loại giữa đường gặp chuyện bất bằng chẳng tha. Kết lại, Việt kiều nhấn mạnh: “Hai anh em mình, đi kiếm chỗ khác nói chuyện, nha Chiêu Dương”.
Giả như ngây thơ, Chiêu Dương hỏi lại: “Chỗ khác là chỗ nào hả anh? Ở đây, anh em mình cũng đang nói chuyện mà!”.
“Bậy bạ không à. Ai mà nói chuyện chỗ này. Chỗ khác là chỗ chỉ có hai người với nhau thôi. Rồi anh cho em tiền, nha”, Việt kiều tiếp tục tấn công.
“Em tưởng anh gọi em ra là để bàn về mức cát-sê cho em. Chứ kiểu này, em không cần. Em muốn là diễn viên, em không phải là gái”, hết câu, Chiêu Dương bỏ về.
Việt kiều nói với theo: “Ơ, anh tưởng đạo diễn đã nói với em là gặp anh để làm gì rồi. Chứ chưa nói, thì em ra đây gặp anh để làm gì”.
Đây không phải là lần đầu tiêu Việt kiều ngỏ lời mời Chiêu Dương đi tâm sự riêng. Trước đó, khi tham gia một bộ phim cũng của đạo diễn lừng danh, gã đã từng rủ Chiêu Dương : “Quay xong, đi uống rượu với anh, nhé. Đi uống rượu, rồi anh lo cho em mà”.
2.Chuyện nữ diễn viên bị rủ rê đi làm chuyện này, chuyện kia với chủ nhiệm đoàn phim, nhà đầu tư hay đạo diễn, thậm chí là trợ lý đạo diễn, không phải là chuyện quá cá biệt.
Có điều, ít nữ diễn viên nào lên tiếng phản ánh, kiểu như Chiêu Dương là cực kỳ hiếm.
Lâu rồi, người ta chỉ quen nhìn diễn viên với sự hào nhoáng bên ngoài, với đồ hiệu, xe xịn, kim cương, biệt thự, khách sạn hạng sang... Những thứ mà một vài cá nhân lấy vài vai diễn trong phim ảnh để làm điều kiện tiệm cận đến mục đích cuối cùng của mình đã từng biểu diễn.
Kiểu như có vài cô nàng, phim ảnh đóng cực ít nhưng không hiểu sao mỗi lần hiện hữu trên truyền thông là lại sắm vai đại gia thứ thiệt. Đại gia đến độ, cảm tưởng rằng sinh ra đã trong nhung lụa, lớn lên có sẵn người hầu, ra đường lắm kẻ đón đưa. Trên thực tế ai cũng biết, họ may mắn túm được một con cá lớn. Họ may mắn cặp được với một gã lắm tiền. Xuống cấp hơn một chút, thì họ lựa được vài tay khách hạng sang. Có vậy thôi mà.
Trở lại chuyện của Chiêu Dương, nếu diễn tròn vai trong bộ phim truyền hình mà Chiêu Dương góp mặt có khoảng 40 phân đoạn. Lấy cái giá cát-sê bét nhất cho mỗi phân đoạn là 180 nghìn. Nhẩm tính, Chiêu Dương có hơn 7 triệu. Vỏn vẹn chỉ 7 triệu. Lấy được tiền từ nghề diễn, nhọc nhằn hơn rất nhiều so với suy nghĩ của đám đông.
Vậy mà, theo những gì tôi được biết, rất khó để diễn viên có thể cầm được trọn vẹn số tiền ấy. Đương nhiên, là cũng có những chủ nhiệm đoàn phim tốt không ăn chặn tiền của diễn viên. Thế nhưng, số này là quá hiếm. Còn lại, diễn viên sẽ bị trừ đủ thứ tiền, tiền ăn, tiền son phấn, tiền di chuyển… Thậm chí là tiền nước uống. Diễn viên không là vai chính, còn bị đối xử tàn nhẫn hơn. Lâu trước, ngồi chơi với nghệ sĩ Trung Dân, nghe nghệ sĩ này kể cảnh mấy ông đạo diễn ăn cắp phân đoạn của diễn viên, buồn cười và kinh hãi không thể tả.
Có những đạo diễn, họ xem nữ diễn viên chỉ như miếng mồi xác thịt. Đạo diễn chỉ đồng ý tuyển chọn vai diễn nữ ngay tại phòng của khách sạn. Những gã đạo diễn có tuổi, miệng đầy mùi thuốc lá, răng sắp rụng, tóc bạc hoe cố làm ra vẻ đạo mạo, vốn dĩ có kinh nghiệm nên việc điều nữ diễn viên muốn tham gia một vai trong bộ phim sắp bấm máy giao hẳn cho trợ lý. Trợ lý trong trường hợp này, không khác một gã ma-cô tóc dài hay đầu trọc nào đó. Không ngại mở miệng: “Nếu em chịu xxx với ổng, thì vai này sẽ là của em”.
“Ăn” thỏa thích nữ diễn viên xong, họ biến nữ diễn viên thành “của để dành”. Ngồi với nhà đầu tư hay vị nào đó có chức trách trong các hãng phim, truyền hình, họ sẽ bốc máy gọi nữ diễn viên ra hầu rượu. Vừa hầu rượu, vừa gợi ý: “Anh A, anh B, anh C… sắp làm phim D, E, F… em uống với mấy ảnh một cái ra mắt đi”. Uống xong, lại tiếp lời: “Mấy anh A, B, C à. Đây là con em gái của em, mấy anh có phim gì, nhớ giúp đỡ nó với”. Vậy là, xin số điện thoại để tiện liên lạc. Kế tiếp là đến công đoạn “quan hệ không tệ sẽ có vai chính trong phim”. Mà thật ra, không phải khi nào chịu mở rộng quan hệ cũng đều được vai chính. Rất nhiều nữ diễn viên mở rộng quan hệ một lúc với nhiều đạo diễn, để đổi lại chẳng được giao vai gì.
Kể với bạn đọc câu chuyện thật mà như bịa. Có đạo diễn rất nổi tiếng đối với thể loại phim truyền hình, ngồi chơi với mấy ông đạo diễn khác, thấy cô diễn viên kia đẹp quá đâm ra mê. Vẫn chiêu bài cũ: “Anh sắp bấm máy phim dài tập. Em rất hợp với vai chính, em cho anh số điện thoại đi”. Nữ diễn viên thấy đạo diễn nổi tiếng xin số điện thoại, hớn hở đọc vach vách.
Đêm, đạo diễn nổi tiếng nhắn tin qua, nhắn tin lại. Tin nhắn cuối cùng có nội dung: “Chiều mai em rảnh không, đi mua quần… lót (vô cùng xin lỗi bạn đọc - NNL) với anh”. Tay đạo diễn này, khả năng tình ái thuộc dạng siêu quần, đóng máy một bộ phim là y như rằng nữ diễn viên xinh đẹp trong đoàn đến lúc… cấn thai.
3.Trong tất cả các câu chuyện, bao giờ cũng có hai vế. Mảng tối hậu trường phim ảnh cũng vậy thôi.
Có những cô nàng lắm tiền hay người yêu lắm tiền sinh rảnh rỗi, suốt ngày lê la rồi tự nguyện hiến thân lẫn hiến tiền của người yêu mình cho đạo diễn nhằm được xuất hiện trong phim. Nghe đâu, cô hoa hậu hết thời có chồng là đại gia còn bỏ cả chục nghìn USD để có vai trong một bộ phim truyền hình dài tập… siêu dở. Chủ yếu, được hiện hình để lấy tiếng.
Đạo diễn được chiều chuộng sinh tật. Vài gã có tiền, theo xách điếu cho đạo diễn ít ngày, học được vài chiêu cũng bắt đầu tập làm đạo diễn. Ra trường quay, chửi diễn viên như hát hay. Rời trường quay, nhắn tin cho nữ diễn viên: “Kiếm chỗ nào tắm rồi nghỉ ngơi, nhé em”.
Mấy lâu nay, người ta đang gào lên phim Việt nhiều nhưng kém chất lượng. Chất lượng ra sao khi mà mọi thứ đều nằm trong sự toan tính, đa phần là những thứ toan tính có liên quan đến bản năng.
Có những chuyện rất hài, ví như, ông chủ một cơ sở vật liệu xây dựng lớn, lén vợ cặp kè với cô em chưa đến hai mươi tuổi.
Chơi trò hai người hoài chán, cô em bèn đề nghị ông chủ: “Em muốn làm diễn viên, em phải làm diễn viên”. Sợ cô em phiền lòng, ông chủ bỏ tiền ra cho đạo diễn làm phim, với yêu cầu cô em của ông chủ phải đóng vai chính. Giao tiền, giao cô em cho đạo diễn. Phim chẳng thấy đâu, cô em có là diễn viên hay không cũng không biết, chỉ biết đạo diễn có tuyệt kỹ phòng the gì đấy mà cô em một phát vẫy tay vĩnh biệt ông chủ, tuyệt không lời tạ từ. Ông chủ điên lắm, hai tay hai dao tìm kiếm đạo diễn. Mà tìm hoài, không thấy đạo diễn hiện hình. Dạo này, ông chủ hận đời đen bạc, hận người bạc tình, suốt ngày chửi váng vất.
Tôi không thể nào hiểu được, làm sao những gã đam mê tính dục đến độ biến thái đang được tung hô như là những nghệ sĩ chân chính đang cố gắng cứu vãn nền điện ảnh(?!).
Nhắn riêng với đạo diễn lừng danh trong vụ Chiêu Dương, tướng mạo đàng hoàng thế, tên tuổi lẫy lừng thế, sống sao cho coi được thì sống. Chứ lừa bịp con cháu kiểu này, hoặc trước hoặc sau cũng sẽ lòi đuôi. Quả báo mà!